Fryderyk Franciszek Chopin

Ngày Xưa Ở Xứ Ba Lan
Sô Pen Sinh Tại Ngôi Làng Vô La
Ấu Thơ Chàng Thích Ngân Nga
Đắm Chìm Trong Nhạc Hát Ca Suốt Ngày.

Một Hôm Chàng Quyết Chia Tay
Vác Sa Va Đến Đêm Ngày Học Chăm
Thành Đồng Nhạc Sỹ Dương Cầm
Có Nhiều Tuyệt Phẩm Âm Thầm Chàng Trao.

Năm Hai Mốt Tuổi Ước Ao
Kinh Đô Ánh Sáng Bước Chào Ba Lê
Tại Đây Chàng Mẩn Chàng Mê
Nữ Văn Người Pháp Tái Tê Một Mình.

Chơi Cùng Nghệ Sỹ Lừng Danh
Schumann và Liszt Loanh Quanh Sớm Chiều
Lúc Này Chàng Sống Thật Phiêu
Say Mê Sáng Tác Rất Nhiều Nhạc Hay.

Thăng Hoa Ngẫu Hứng Bổng Bay
Nhẹ Nhàng Dạ Khúc Khiến Say Lòng Người
Dập Dìu Van Bước Lả Lơi
Những Bài Hòa Tấu Đất Trời Ngả Nghiêng.

Tài Hoa Đi Với Muộn Phiền
Ba Lê Nghiệt Ngã Diệu Huyền Đớn Đau
Sức Chàng Vốn Đã Xanh Xao
Giờ Đây Chàng Chẳng Thể Nào Bước Đi.

Ngày Kia Đông Giá Ba Lê
Chàng Nằm Lặng Lẽ Nặng Nề Bệnh Lao
Bạn Bè Buồn Bã Đến Chào
Thiên Đường Tiếng Gọi Thì Thào: Chopin!

Saigon, 11/09/2021
TV Tuấn

— — —

Ghi chú:
1. Sô Pen = Chopin
2. Vô La = Żelazowa Wola
3. Vác Sa Va = Warszawa
4. Ba Lê = Paris

HỌC QUA MẠNG

Trẻ Em Qua Mạng Học Bài
Sống Lưng Còn Yếu Ngồi Hoài Tổn Thương
Ngồi Thẳng Để Giữ Vững Xương
Cúi Đầu Vừa Phải, Cổ Thường Xoay Quanh.

Ở Nhà Siêng Nhớ Tập Tành
Thường Xuyên Vận Động Thực Hành Thở Sâu
Béo Phì Nguy Hiểm Hàng Đầu
Giữ Gìn Thon Thả Cúm Tàu Ít Nguy.

Thời Gian Máy Tính Bớt Đi
Tai Nghe Dùng Ít, Tốt Thì Dùng Loa
Mắt Nhìn Một Tiếng Tối Đa
Dành Ra Năm Phút Nhìn Xa Mỗi Giờ.

Saigon, 17/09/2021
TV Tuấn

THÈM

Tôi Thèm Một Khoảng Không Gian
Thèm Thêm Một Thoáng Miên Man Chiều Tà
Thèm Ngồi Góc Phố Lại Qua
Thèm Cà Phê Nóng Hương Pha Ngạt Ngào.

Thèm Ngồi Tám Chuyện Tào Lao
Thèm Cầm Máy Ảnh Đưa Chào Trên Tay
Thèm Cơn Gió Thoảng Mây Bay
Thèm Mùi Xe Cổ Ngất Ngây… Chua Lè…

Thèm Sao Những Buổi Tối Hè
Ngược Xuôi Qua Lại Người Về Lưa Thưa
Thèm Lắm Những Sớm Mùa Mưa
Lá Vàng Rơi Xuống Ướt Vừa Vai Ai…

Thèm Ôi Âm Điệu Khoan Thai
Nhả Từ Chiếc Máy Akai Góc Phòng
Thèm Mùi Phảng Phất Hư Không
Cohiba Với Say Nồng Martell…

Saigon, 18/09/2021
TV Tuấn

LỜI MẸ DẶN

Mẹ Thường Dạy Cho Con Tất Cả
Lúc Ấu Thơ Con Đã Học Bài
“Đời Con Là Cuốn Sách Hay
Mở Từng Trang Mới Đến Ngày Đọc Xong.”

Ngọn Lửa Sáng Hư Không Tàn Lụi
Con Từng Nghe Nhiều Buổi Mẹ Chờ
Trái Tim Bé Dại Non Thơ
Tưởng Rằng Đã Lớn Đến Giờ Bay Xa.

Để Trái Tim Này Ra Gió Bụi
Để Cho Con Đủ Tuổi Lớn Khôn
Trái Tim Con Muốn Phong Trần
Đừng Cho Con Phải Sống Mòn Tuổi Xuân.

Thằng Nổi Loạn, Tên Con Mới Đó
Chảy Trong Ven Hoang Dã Máu Hồng
Cổ Con Đeo Mấy Dây Chuyền
Hình Xăm Đánh Dấu Đen Huyền Cánh Tay.

Con Bỏ Nhà Từ Nay Lang Bạt
Mẹ Nói Rằng Phiêu Dạt Là Sai
Lòng Tha Thứ Chẳng Van Nài
Lời Con Đã Hứa Không Phai Trọn Đời.

Để Trái Tim Này Trôi Gió Bụi
Để Cho Con Lớn Tuổi Phong Trần
Trái Tim Con Muốn Lớn Khôn
Đừng Giam Con Phải Sống Mòn Một Nơi.

Chưa Bao Giờ Hỏi Đời Phải Trả
Con Cũng Chưa Thay Ngã Đường Mờ
Mẹ Cho Trống Rỗng Cơn Mơ
Giờ Đây Con Sẽ Xuống Mồ Đem Theo.

Chưa Bao Giờ Đời Nào Phải Trả
Con Cũng Chưa Thay Ngã Đường Mờ
Mẹ Cho Trống Rỗng Cơn Mơ
Tim Con Lặng Lẽ Xuống Mồ Đem Theo.

Trở Về Lại Chốn Nao Thời Bé
Con Chẳng Là Đứa Trẻ Mẹ Trông
Tình Thương Của Mẹ Mênh Mông
Nhận Ra Con Đã, Dù Không Một Lời.

Đón Tình Thương Đầy Vơi Của Mẹ
Cả Bao Điều Mẹ Kể Cho Con
Vòng Tay Của Mẹ Dẫu Còn
Nhưng Con Chỉ Thấy Lạnh Hồn Giá Băng.

Để Trái Tim Lang Thang Gió Bụi
Để Cho Con Đủ Tuổi Lớn Khôn
Trái Tim Con Vốn Bất Cần
Đừng Bắt Con Phải Sống Mòn Một Nơi.

Để Trái Tim Này Trôi Gió Bụi
Để Cho Con Lớn Tuổi Phong Trần
Trái Tim Con Vốn Bất Cần
Đừng Giam Con Phải Sống Mòn Một Nơi.

Chưa Bao Giờ Hỏi Đời Phải Trả
Con Cũng Chưa Thay Ngã Đường Mờ
Mẹ Cho Trống Rỗng Cơn Mơ
Giờ Đây Con Sẽ Xuống Mồ Đem Theo.

Chưa Bao Giờ Đời Nào Phải Trả
Con Cũng Chưa Bỏ Cả Đường Thơ
Mẹ Cho Trống Rỗng Cơn Mơ
Tim Con Lặng Lẽ Xuống Mồ Thiên Thu.

Saigon, 22/09/2021
Trần Văn Tuấn

— — —

Mama Said

Metallica

Mama, she has taught me well
Told me when I was young
“Son, your life’s an open book”
“Don’t close it ‘fore it’s done”.

“The brightest flame burns quickest”
That’s what I heard her say
A son’s heart’s owed to mother
But I must find my way.

Let my heart go
Let your son grow
Mama, let my heart go
Or, let this heart be still.

“Rebel, ” my new last name
Wild blood in my veins
Apron strings around my neck
The mark that still remains.

I left home at an early age
Of what I heard was wrong
I never asked forgiveness
But what is said is done.

Let my heart go
Let your son grow
Mama, let my heart go
Or let this heart be still.

Never I ask of you, but never I gave
But you gave me your emptiness
I now take to my grave.

Never I ask of you, but never I gave
But you gave me your emptiness
I now take to my grave
So let this heart be still.

Mama, now I’m coming home
I’m not all you wished of me
But a mother’s love for her son
Unspoken, help me be.

Yeah, I took your love for granted
And all the things you said to me, yeah
I need your arms to welcome me
But a cold stone’s all I see.

Let my heart go
Let your son grow
Mama, let my heart go
Or let this heart be still.

Let my heart go
Mama, let my heart go
You never let my heart go
So let this heart be still, whoa.

Never I ask of you, but never I gave
But you gave me your emptiness
I now take to my grave.

Never I ask of you, but never I gave
But you gave me your emptiness
I now take to my grave
So let this heart be still.

ĐỪNG ĐỨNG TRƯỚC MỘ TÔI NỨC NỞ

Đừng Đứng Trước Mộ Tôi Nức Nở
Tôi Không Nằm Dưới Đó Ngủ Yên
Tôi Là Mây Gió Viễn Miên
Kim Cương Lấp Lánh Trên Miền Tuyết Rơi.

Tôi Là Nắng Vàng Phơi Lúa Chín
Là Mưa Thu Giăng Kín Nhẹ Nhàng
Bình Minh Thức Dậy Khẽ Khàng
Dang Đôi Cánh Rộng Vội Vàng Bay Cao.

Tà Dương Lạnh Nôn Nao Đêm Đến
Trên Bầu Trời Tôi Biến Thành Sao
Trước Mộ Tôi Hãy Đừng Gào
Tôi Không Nằm Đó, Tôi Nào Chết Đâu.

Saigon, 19/09/2021
TV Tuấn

— — —

DO NOT STAND AT MY GRAVE AND WEEP

Do not stand at my grave and weep
I am not there; I do not sleep.

I am a thousand winds that blow,
I am the diamond glints on snow,
I am the sun on ripened grain,
I am the gentle autumn rain.

When you awaken in the morning’s hush
I am the swift uplifting rush
Of quiet birds in circled flight.
I am the soft stars that shine at night.

Do not stand at my grave and cry,
I am not there; I did not die.

Mary Elizabeth Fryer, 1932

— — —

IMMORTALITY

Do not stand
By my grave, and weep.
I am not there,
I do not sleep

— I am the thousand winds that blow
I am the diamond glints in snow
I am the sunlight on ripened grain,
I am the gentle, autumn rain.

As you awake with morning’s hush,
I am the swift, up-flinging rush
Of quiet birds in circling flight,
I am the day transcending night.

Do not stand
By my grave, and cry
—I am not there,
I did not die.

Clare Harner Lyon, 1934

BÀI CA CON SÂU HẠI LÚA

Chiều Vàng Gió Mát Mùa Thu
Ra Đồng Ngắm Cảnh Chim Cu Bay Về.
Anh Nông Vui Vẻ Cười Khề
Lúa Thời Con Gái Thấy Mê Quá Chừng.

Đột Nhiên Anh Bỗng Nổi Khùng
Mấy Con Sâu Lúa Lừng Khừng Đục Thân.
Xòe Tay Xắn Gối Thò Chân
Lom Khom Diệt Được Cả Gần Trăm Con.

Quay Nhìn Kết Quả Tưởng Ngon
Ngờ Đâu Mới Nở Sâu Non Ngàn Bầy.
Anh Nông Lội Xuống Bắt Ngay
Vừa Xong Quay Lại Thấy Đầy Lứa Sau.

Thở Dài Điên Tiết Làu Bàu
Anh Nông Cởi Áo Ngồi Lau Lưng Trần.
Mẹ Sâu Gần Đó Khua Chân
Anh Ơi Làm Thế Phải Cần Thiên Thu!

Khoanh Vùng Bóc Tách Vào Khu
Anh Nông Đang Cố Cuối Thu Hoàn Thành.
Mẹ Sâu Nghe Thế Hỏi Nhanh
Diệt Sâu Cần Thuốc Sao Anh Không Làm?

Má Ơi, Thuốc Ở Xa Xăm
Giá Thì Lại Mắc Tao Làm Sao Mua?
Không Thuốc Anh Chỉ Có Thua
Sức Tôi Chỉ Đẻ Một Mùa Anh Toi.

Căng Mắt Đứng Đó Mà Coi
Bao Nhiêu Là F Loi Nhoi Mịt Mù.
Khoanh Vùng Bóc Tách Vào Khu
Anh Ơi Làm Thế Đại Ngoo Thiên Hà!

Saigon, 29/08/2021

(Thân tặng bác sỹ DungLy Previa)

THẢM KỊCH VĨ NHÂN

Ngày Xưa Nguyễn Trãi Tiên Sinh
Làm Quan Hành Khiển Quên Mình Bề Tôi
Phò Vua Lê Lợi Lập Ngôi
Bình Ngô Đại Cáo Viết Thời Côn Sơn.

Khi nói đến lịch sử, hầu hết mọi người trong chúng ta đều nghĩ ngay đến những trang sách chi chít các dữ liệu ngày tháng khô khan, khó đọc, khó nhớ. Với cuốn tiểu thuyết Thảm Kịch Vĩ Nhân của nhà văn Hoàng Minh Tường thì khác hẳn. Cuốn sách cho chúng ta một cách đọc lịch sử mới mẻ, sinh động và lôi cuốn.

Nguyễn Trãi là một người yêu nước, sống thanh liêm, chính trực. Cũng vì đức tính đó mà quan lộ của ngài luôn gập ghềnh và gặp lắm trắc trở. Nhiều lúc, ngài đành phải buông xuôi vì số quan lại ngu dốt, tham lam, nịnh nọt, ác độc quá đông. Những lúc đó, cụ Nguyễn Trãi sẵn sàng từ chức, gạt bỏ bổng lộc, từ chối danh vọng để giữ vững tâm khí trong sạch.

Tiếc thay, cụ Nguyễn Trãi đã bị kết án oan. Thời nhà Lê, vụ xử án man rợ mang tên Lệ Chi Viên, đã tru di tam tộc đối với quan Thừa chỉ Hành khiển, cụ Nguyễn Trãi và vợ là người đẹp, quan Lễ nghi Học sĩ, bà Nguyễn Thị Lộ.

Trong bối cảnh đại dịch do con china wuhan novel coronavirus gây ra hiện nay, liên tưởng đến đức tính khí khái của cụ Nguyễn Trãi, mong rằng những người không có năng lực quản trị khủng hoảng nên nhường trọng trách cho những người vừa có kiến thức vừa có đạo đức đảm nhiệm công việc cực kỳ quan trọng này.

Saigon, 31/08/2021

LÝ LỆ GIANG

Phần I

– Nhiêu? – Một thanh niên tầm hai lăm, tấp xe đạp vô lề, hỏi cô.
– Dù ba chục. Phòng, bao. – Từ bên gốc cây, cô trả lời cộc lốc, mắt liên tục dòm trước ngó sau phía hai đầu đường.
– Chị đi trước đi. – Thanh niên nói và đạp xe theo sau cô.

Họ đến một nhà nghỉ bình dân cũ kỹ trên đường Phùng Hưng. Anh chủ nhà nghỉ có cặp mắt hí đang ngồi sát cửa, không hề ngước lên nhìn hai người khách vừa dắt xe bước vào. Cầu thang tối mờ, bốc mùi ẩm ương pha lẫn mùi nhang phảng phất từ bàn thờ ông Địa và Thần Tài. Cô đẩy cửa bước vào một căn phòng. Sàn phòng vương vãi tàn thuốc lá và bao cao su. Mùi mồ hôi chen lấn mùi hương xịt phòng loại rẻ tiền làm cho bất cứ ai vừa bước vào cũng phải nhăn mũi. Nhưng chỉ vài phút là họ quen dần. Tấm ga giường ngả màu vàng úa, loang lổ những vết sậm màu ẩn nấp vụng về trong các nếp nhăn.

Ánh đèn đường màu vàng nhìn qua song cửa sổ, ngán ngẩm chứng kiến những đoạn phim xác thịt diễn ra nhiều lần mỗi đêm. Có lẽ thanh niên đã lâu không chạm vào thứ mùi ướt át của đàn bà nên mọi việc đã diễn ra khá chóng vánh. Cả hai có vẻ hài lòng.

– Cưng mới đi làm về hả? – Vừa bật quẹt đốt điếu thuốc, vừa thả mắt nhìn lên chiếc quạt trần, cô hỏi.
– Dạ. Em làm công nhân ở xưởng đồ nhựa gần đây. Hồi trẻ chị đẹp lắm phải không?

Cô không trả lời câu lời hỏi của thanh niên mà thảy cho thanh niên điếu thuốc đã hút mấy hơi. Cô đứng lên, lẳng lặng nhanh chóng bước ra cửa. Cô tranh thủ trở về với gốc cây quen thuộc, nơi cô làm công việc tiếp thị hàng đêm.

Chợ Lớn về đêm nhộn nhịp đầy sức sống, phô trương và hối hả. Nhưng ở dọc nhiều con đường thưa thớt ánh đèn hiu hắt thì cuộc sống lại lặng lẽ và ảm đạm. Những mảnh vỡ thường tìm đến nơi đây để gắng gượng cúi nhặt những đồng tiền từ tận đáy xã hội, ráng nhét vào những vết nứt vỡ trong cuộc đời của họ.

Để có được một chỗ đứng ở gốc cây làm việc hàng đêm, cô đã phải đương đầu dàn xếp với nhiều thành phần luôn chực chờ hà hiếp và trấn lột cô. Cả đen lẫn đỏ. Thời gian đầu, cô yếu đuối và sợ hãi. Sự cạnh tranh khốc liệt dưới những gốc cây khi đêm về không dành cho những người ẻo lả.

Những ngày mới đến, cô ê ẩm với những đại ca bảo kê chăn dắt. Họ xua đuổi, dọa nạt, đánh đập cô. Cô chịu đựng, van xin. Hàng đêm cô phải trả tiền bảo kê để được yên thân làm việc. Nhiều lúc cô bị cuốn vào những cuộc cãi vã vì giành khách với gái đồng nghiệp, và để kết thúc, họ thường thực hiện những màn ẩu đả. Đại ca bảo kê ít khi can thiệp nên các cô phải luôn biết dừng đúng lúc để không ai bị người sứt đầu kẻ mẻ trán. Họ cần lành lặn ngoại hình, ít nhất là khuôn mặt, để tiếp tục công việc.

Cuộc sống ở đáy xã hội cho cô nhiều cơ hội phải chứng kiến những tình huống vừa mếu vừa khóc. Đáng lẽ ra, những người như cô mới là thành phần lừa lọc nhưng trớ trêu thay, có lần cô lại là nạn nhân. Bữa khuya nọ, có một ông trung niên dừng xe gần gốc cây và kêu cô đi. Họ đến một nhà nghỉ bình dân cũ kỹ trên đường Phùng Hưng. Khi tỉnh dậy, cô không thấy gã trung niên. Mấy trăm ngàn trong túi của cô chắc cũng đã đi theo gã.

Rất nhiều lần cô chứng kiến các hoàn cảnh tật nguyền già cả đáng thương ngồi u uẩn ở những góc đường. Cô không cầm được hai dòng nước mắt vì lòng trắc ẩn của cô quá lớn. Có đêm đạp xe đi làm về, thấy một cụ già ốm yếu nằm bên vỉa hè, sẵn có mấy ổ bánh mỳ, cô cho cụ một ổ. Cô đưa thêm cho cụ mấy chục ngàn, những đồng tiền phết phủ màu ái ân còn nóng mùi mồ hôi nhớp nháp. Cụ lắc đầu, thều thào:

– Cám ơn cô Ba. Tui không lấy tiền đâu. Giờ tui yếu lắm rối, chỉ ngồi một chỗ, không đi đâu được.

Cô cẩn thận cất tiền lại vào túi và lặng lẽ đạp xe đi về. Dù sao cô thấy mình cũng còn may mắn hơn cụ nhiều.Những ngày gần Tết, khách của cô ít hơn. Có lẽ họ về quê hoặc đi du lịch. Gần góc Ngô Quyền và Ngô Gia Tự, mỗi tối thường có anh thương binh cụt hai chân, khoảng ngoài 40, hay ngồi hát với cây đàn guitar đã cũ. Những bài hát tiền chiến anh hát khiến cho nhiều người đi đường dừng lại lắng nghe và để lại cho anh vài tờ tiền lẻ.

Con biết bây giờ mẹ chờ tin con
Khi thấy mai đào nở vàng bên nương
Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về
Nay én bay đầy trước ngõ
Mà tin con vẫn xa ngàn xa

Tiếng hát anh thương binh làm cô nhớ nhà da diết. Cô nhớ mẹ và nhớ ba, nhớ đến thắt lòng những bữa cơm chiều đầm ấm của gia đình những ngày cận Tết. Cô ngồi xuống, gục mặt vào đầu gối mà khóc nức nở.

Sau đêm cô bị đám mặt rô đuổi ra khỏi nhà, trong một lần hai mẹ con cô đói khát đường cùng, cô đã gạt bỏ hết sỹ diện để bước chân về căn nhà của ba mẹ cô, nhưng ông bà không còn ở đó. Cô hỏi hàng xóm, họ cho biết hai ông bà đã đi Mỹ định cư được mấy năm rồi. Họ có đi tìm con gái mấy tháng trời nhưng bặt vô âm tính.

Lý Lệ Giang là một người phụ nữ cứng rắn. Cuộc đời vùi dập cô tả tơi rách nát như tàu lá chuối sau cơn bão. Cô không khuất phục. Mỗi lần bị đời hắt hủi, cô lại đứng lên và lỳ lợm hơn.

Bé Kimo là đứa con gái của cô với tay trạm trưởng. Kimo bị căn bệnh não chậm phát triển. Có lẽ là do gã trạm trưởng say xỉn nhiều quá nên chất cồn và hèm trong máu đã ảnh hưởng đến đứa con gái của ông ta. Mặc dù Lý Lệ Giang rất căm hận gã trạm trưởng vì gã đã tàn nhẫn bỏ rơi cô và đứa con nhỏ, nhưng cô rất yêu thương đứa con của mình.

Cô ước mong một ngày, Kimo và anh trai của nó sẽ được gặp nhau. Lúc đó, có nhắm mắt nằm xuống thì cô cũng sẽ rất hài lòng. Không ngờ ước mơ tưởng chừng như không thể đó lại trở thành hiện thực ngay cái hôm mà bà gặp lại Đào Thạc cách nay vài năm…

… Bà ngừng câu chuyện, nâng ly cappuccino lên miệng uống một ngụm nhỏ. Làn khói trắng mỏng từ điếu Pall Mall Green trên tay bà tỏa ra lơ lửng bay nhẹ vào không khí mang theo mùi thơm thật lạ.

Đây có lẽ là những tháng ngày hạnh phúc nhất của bà. Bà cảm thấy yêu thương ông Đào Thạc vô cùng. Ông lắng nghe bà kể về những năm tháng lầm lỡ, cơ cực với nét mặt trìu mến đầy chia sẻ. Qua bao giông tố trong cuộc đời, nay đã ngoài sáu mươi, nét đẹp quý phái của bà vẫn không hề mất đi. Đôi mắt bà vẫn toát lên một ánh nhìn lôi cuốn và đầy thiện cảm.

– Nè ông, mấy chiếc xe hơi cổ đó đẹp quá. Mình ra đó xin chớp vài pô ảnh đi.
– Bà có muốn tui mua một chiếc xe cổ để chở bà đi dạo hàng ngày không?

Bà Lý Lệ Giang ngạc nhiên nhìn ông. Còn gì tuyệt vời hơn! Giọng nói của ông vẫn ấm áp như ngày nào. Đào Thạc đứng lên, ông nhẹ nhàng nắm tay bà Lý Lệ Giang. Với cử chỉ của một quý ông, Đào Thạc dắt bà đi ra phía những chiếc xe cổ duyên dáng đang đậu trước Hotel Continental Saigon.

Saigon, 30/08/2021

ĐÀO THẠC

Đầu thập niên 1980, Saigon chứng kiến giới doanh nhân và trí thức chế độ VNCH hoảng loạn di cư từ thành phố đến các khu kinh tế mới. Vợ chồng Đào Thạc, với tính bốc đồng của tuổi trẻ, hăng hái đăng ký tham gia cuộc di dân này. Anh và gia đình rời xa thành phố, đi theo tiếng gọi đanh thép từ mảnh đất phèn chua nước mặn để lập nghiệp, ở nông trường An Hạ, thuộc quận 5, TPHCM.

Vợ chồng Đào Thạc là những trí thức trẻ tốt nghiệp đại học Văn Khoa Saigon. Đến nơi, họ cảm thấy vô cùng xa lạ với hoàn cảnh cuộc sống mới. Tay họ chỉ biết cầm cây viết, gãy dây đàn, dìu nhau theo tiếng nhạc của vũ trường. Nay tay họ phải cầm cây rựa và vai họ phải vác cây cuốc, phải phơi mình từ sáng sớm đến tối mịt dưới cái nắng nóng cháy khét sạm da.

Những ngày đầu ở nông trường, một vùng đất nghèo đói, không tài nguyên, cuộc sống của họ luôn đối mặt với vô vàn gian truân. Sự háo hức ngây thơ trước đây bây giờ là sự chán nản đầy hối tiếc. Có những lúc họ tưởng không thể chịu đựng được nữa. Có những lúc, họ chỉ muốn vứt bỏ tất cả để trở về lại thành phố. Nhưng đó chỉ là ước mơ. Thành phố không còn là của họ nữa. Thành phố không có nơi cho họ quay về.

Saigon, cái thành phố phồn hoa kia nay đã là dĩ vãng. Những tháng ngày đẹp đẽ bên nhau dưới ánh đèn lung linh nay chỉ còn là kỷ niệm. Những buổi chiều ngồi nhâm nhi cà phê nhìn dòng người qua lại chỉ còn là ký ức. Những hôm bạn bè rủ nhau râm ran ở tiệm kem Bạch Đằng giờ chỉ còn trong nỗi nhớ. Những chai bia laser mát lạnh với chúng bạn giờ chỉ là nỗi thèm khát vô biên. Họ nhớ lắm những buổi tối nắm tay nhau cùng vào rạp cinema. Họ nhớ da diết giảng đường đại học, nơi tình yêu cháy bỏng của họ nở hoa kết trái.

Họ phải tập làm quen dần với cuộc sống mới. Ở đây không có nước sạch để sinh hoạt hàng ngày. Họ tắm giặt ở dòng nước trong xanh của con kênh Xáng. Nước ở đây nhiễm phèn nặng nên rất trong. Rong và cây cỏ năng là hai loài chủ yếu mọc ở vùng này. Nước tuy trong veo nhưng khi tắm xong, da vừa khô là xuất hiện một lớp màng màu nâu. Dùng tay gãi nhẹ lớp màng này mốc ra như phấn.

Nước dùng để ăn uống là một vấn đề rất lớn. Họ dùng những chiếc lu để trữ nước mưa hoặc phải đạp xe đi mua nước sạch cách nhà năm bảy cây số. Nhà nước chỉ đưa họ đến đây, một nơi hoang vu, không bóng cây cao, không có những tiện ích tối thiểu cho cuộc sống. Họ phải tự sống. Ngày ngày, họ làm bạn với những liếp mía và vườn thơm. Đêm đến, dưới ánh trăng vàng vọt, họ cùng nhau ngồi thưởng thức tiếng muỗi vo ve như tiếng nhạc vĩ cầm.

Có lần, trong lúc đang đi thu hoạch mía, đôi tay tiểu thơ do không thạo dùng dao rựa, vợ anh đã lỡ chặt vào ngón cái, máu tuôn đỏ cả vạt áo. Cái sẹo để lại lớn gần 5cm. Từ hôm đó, vợ anh vứt cuốc, bỏ làm nông. Cô vay mượn tiền của anh chị em bạn bè để lấy vốn đi buôn.

Một thời gian, do làm nông cũng không nổi, Đào Thạc xin vào làm giáo viên dạy ngoại ngữ ở trường PTCS địa phương. Với trình độ của anh thì đúng là một nhân sự mà nhà trường đang cần. Sáng anh dạy ở trường, chiều anh dạy thêm ở nhà. Cuộc sống tạm ổn cứ thế trôi đi.

Thập niên 1990, đất nước đổi mới, thành phố đón chào các dòng thác tiền đầu tư của nước ngoài tới tấp tràn vào. Các doanh nghiệp làm ăn với các đối tác nước ngoài rất cần những người biết tiếng Anh. Đào Thạc thấy được cơ hội. Anh bỏ nghề thầy giáo, đi làm thông dịch cho một doanh nghiệp may mặc lớn của nhà nước. Giám đốc doanh nghiệp là một người từ ngoài Bắc mới vào. Ông ăn to nói lớn, thường dùng tiếng đệm địt đéo để làm cho lời nói có thêm mùi văn chương! Đấy là ông ấy giải thích thế.

Công việc thông ngôn đối với Đào Thạc không có gì khó khăn, vì anh được đào tạo chuyên ngành này trong ban Anh Văn và Pháp Văn ở Đại Học Văn Khoa Saigon trước đây. Ông giám đốc rất trọng dụng anh nên ông dành cho anh nhiều ưu ái. Nhờ lương cao và công tác phí hậu hĩnh, cuộc sống của anh trở nên khá giả. Anh dành dụm tiền mua được căn nhà ở khu cư xá Nguyễn Trung Trực, Q.10 và dọn về đó ở.

Mỗi lần họp với khách nước ngoài, ông giám đốc có lúc lỡ quên hoặc do thói quen, đã vô tư dùng thêm tiếng đệm mà Đào Thạc không cách gì dám dịch cho khách nghe. Đôi lúc anh cũng gặp phải tai nạn nghề nghiệp, do kiểu nói tắt thường có của những người xã nghĩa ở ngoài Bắc. Ông giám đốc thường dùng các từ nói gộp, nói tắt kiểu như “phối kết hợp”, “nông lâm nghiệp”, “công nông trường”, “vườn ao chuồng”, “y bác sỹ”, “khu cao xà lá”, “thanh kiểm tra”…

Khoảng năm 2000, nhờ tính chất công việc, quen biết các đối tác nước ngoài, Đào Thạc nhờ họ giới thiệu và cho con trai anh đi du học ở Mỹ. Sau khi tốt nghiệp The College Of Aeronautics, Florida, chàng trai làm phi công cho hãng Singapore Airlines. Thỉnh thoảng Đào Thạc cũng được con trai mời đi nước ngoài trên chính chiếc máy bay anh con trai lái.

Thập niên 2010, Đào Thạc thường ngồi uống cà phê ở Hồ Con Rùa. Những khi ngồi nhâm nhi cà phê với bạn bè ở Hồ Con Rùa, Đào Thạc thường kêu mấy đứa trẻ lại để đánh giày cho ông. Ông bo rất sộp. Ông cũng thường mua vài tờ vé số của những người bán dạo. Ông ít khi lấy lại tiền thối. Ông mua cũng chỉ để quên đó chứ ít khi ông dò. Vì có trúng đâu mà dò.

Những ngày cuối năm, đường phố Saigon thường vắng hoe. Đào Thạc trầm tư nhâm nhi ly cà phê một mình ở góc Hồ Con Rùa quen thuộc. Những lúc một mình, ông thường đeo cặp kính mát hình giọt lệ hiệu Rayban, lơ đãng ngắm nhìn xe cộ lưa thưa qua lại. Ông thả hồn bay theo những bài hát trữ tình tiếng Pháp. Ông rất thích những lúc cô đơn như thế này. Nó cho ông những khoảng thời gian tuyệt vời nhất để gặm nhấm lại những kỷ niệm. Cuộc sống bao thăng trầm, bao đổi thay, bao mất mát và đau khổ. Nhưng tất cả cũng đã qua đi, giờ chỉ còn là ký ức. Ông ngồi lặng lẽ, bồi hồi chìm vào dĩ vãng…

… Vợ anh từng là một nữ sinh xinh đẹp, là hoa khôi của trường Văn Khoa Saigon. Cô thu hút những ánh mắt ngây dại của các nam sinh. Cô còn là sự ganh tỵ của các nữ sinh qua những cái liếc mắt dài vô tận. Nhiều chàng trai si tình vật vã vì nhan sắc của cô. Họ chết mê chết mệt vì mái tóc bồng bềnh xõa xuống, chạy dọc theo những cung đường cong dưới lớp tà áo dài. Đào Thạc khéo văn nghệ lại còn học giỏi. Anh may mắn chiếm được trái tim nóng dại của cô hoa khôi.

Cuối thập niên 1970, họ cưới nhau. Không lâu sau đó, họ xung phong đi kinh tế mới. Cuộc sống khó khăn cực khổ ở vùng kinh tế mới để lại trong cuộc đời họ nhiều kỷ niệm. Vui có, buồn có. Mùa mưa năm 1985, một hôm đi dạy về, Đào Thạc thấy một bức thư trên bàn, anh mở ra. Những nét chữ quen thuộc của vợ anh chợt nhạt nhòa.

Anh Thạc,
Em không chịu nổi cuộc sống cực khổ ở chốn khỉ ho cò gáy này nữa. Em ra đi. Tiền bạc em để lại. Anh nuôi con giùm em.
Em ngàn lần xin lỗi.
Lý Lệ Giang

Bức thư ngắn ngủi của vợ làm cho Đào Thạc bất ngờ. Anh bàng hoàng, đau đớn vô cùng. Anh không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Anh đang ngủ mơ chăng? Anh không biết đi tìm vợ ở đâu. Anh đi hỏi thăm người nhà của vợ, bạn bè của vợ, nhưng không ai biết cô ở đâu. Cuộc sống của anh rơi vào bế tắc cùng cực. Một mình anh nuôi đứa con ba tuổi sẽ không hề dễ dàng gì. Thật tội nghiệp cho nó. Mẹ nó bỏ đi khi nó còn quá nhỏ. Nhiều đêm nó giật mình thức giấc, khóc thét kêu mẹ…

Đào Thạc chợt giật mình, ông thoát ra khỏi dòng suy tưởng… Có tiếng phụ nữ mời ông mua vé số. Không kịp suy nghĩ gì, như một thói quen, ông uể oải cầm xấp vé số và lấy vài tờ. Ông móc bóp trả tiền. Khi người phụ nữ đưa tay cầm tờ hai mươi ngàn đồng, Đào Thạc vô tình nhìn vào bàn tay nhăn nhúm già nua của bà. Ở đó có một vết sẹo dài. Ông bất giác nhìn lên gương mặt người phụ nữ. Ông thoáng cảm thấy có một dòng sét đánh thẳng vào tim. Ông chợt thốt lên:

– Lệ Giang!

Người phụ nữ ngơ ngác đứng im một lúc. Bà bỗng run rẩy, nước mắt tuôn trào. Xấp vé số trên tay bà rơi xuống đất. Giọng nói của Đào Thạc trong tim bà vẫn luôn ấm áp như ngày nào. Đào Thạc đứng lên, ông nhẹ nhàng cầm tay bà Lý Lệ Giang, dìu bà ngồi xuống ghế…

… Nhờ vay mượn tiền làm vốn, vợ anh bắt đầu đi buôn lậu. Cô xuống miệt miền Tây mua gạo và thịt heo, rồi đem lên Chợ Lớn bán cho các vựa buôn sỹ của người Hoa. Thời gian đầu, vì chưa quen nên nghề buôn lậu rất bấp bênh. Tiền lời mỗi chuyến tuy cao nhưng mỗi lần bị bắt là đứt vốn. Có nhiều lần cô bị bắt và bị tịch thu hàng, cô khóc lóc, quỳ xuống năn nỉ.

Vợ Đào Thạc thông minh, sắc sảo. Sắc đẹp trời cho của gái một con đã giúp cô thoát nhiều phen tưởng chừng như mất trắng trong các chuyến đi hàng. Dần dà, cô làm quen được với tay trưởng trạm chống buôn lậu ở Bến Lức. Tay này từ Thanh Hóa vô, nổi tiếng xử rắn, bắt được hàng là tịch thu, không xin xỏ. Ông ta cũng nổi tiếng là một tay nhậu nhẹt không đối thủ. Hầu như ngày nào ông ta cũng nhậu nhẹt, say xỉn. Trạm này bị dân buôn lậu bán chết cho cái tên là ‘trạm hố bom’ vì nếu bị trạm này bắt là tịch thu, không tha. Từ khi làm quen được với tay trưởng trạm, những chuyến hàng của cô không còn là vài chục ký nữa mà là hàng chục dạ gạo.

Để các chuyến hàng qua được trạm trót lọt, cô phải chiều tay trưởng trạm Bến Lức mỗi khi anh ta đòi hỏi. Họ thường hẹn nhau vào các khách sạn ở Chợ Lớn. Với bản tính háo thắng, anh ta vồ lấy cô như muốn nuốt chửng cả cơ thể của cô. Giày vò, ngấu nghiến, mệt nhoài.

Những lần đầu, cô cảm thấy vô cùng tội lỗi. Khi về đến nhà, cô mệt mỏi, chán chường. Nhưng ma lực đồng tiền cứ nhảy nhót cuốn cô đi, khiến cô giãy giụa trong những cơn bão xác thân vụng trộm mà cô không thể nào thoát ra được. Cô chìm dần.

Sau những cuộc mây mưa trăng gió, họ thường đến ăn tối ở nhà hàng Ngọc Lan Đình, nổi tiếng ở Chợ Lớn. Dần dà, cô có cảm giác quen với mối quan hệ này. Vài ngày không gặp nhau là cô cảm giác như thiếu gì đó. Cô trở nên chưng diện và thờ ơ với chồng.

Một hôm, cô để lại cho chồng một lá thư và dứt áo ra đi. Cô bỏ chồng bỏ con, đi theo gã trưởng trạm, làm lẽ. Từ đó, cô trở thành vợ bé của ông ta. Ông ta mua cho cô một căn nhà ở quận 5. Cô không còn trực tiếp đi buôn lậu nữa mà ở nhà điều khiển mấy đứa đàn em đi hàng. Công việc buôn lậu của cô phất lên như diều gặp gió.

Một buổi tối, khi cô và tay trạm trưởng đang ăn tối ở nhà hàng, một đám bốn năm người mặt mày hung dữ từ ngoài lao đến bàn của họ. Tay trạm trưởng mặt tái mét, ngồi như trời trồng. Ông ta lý nhí trong miệng “ơ kìa, này, ơ kìa, này, này…”. Một người phụ nữ trong đám, đứng tuổi, dáng đẫy đà, mặt hoa da phấn giận dữ, trợn mắt chỉ thẳng vào mặt cô, hét lớn:

– Địt mẹ. Con mặt luồn này cướp chồng bà. Bọn mày đánh chết nó cho tao…

Nói chưa dứt câu, bà ta vung tay táng cho cô mấy bạt tai. Cô choáng váng, ngất lịm đi.

Khi tỉnh dậy, cô thấy mình đang nằm ở vỉa hè, khắp người ê ẩm, mặt cô sưng vù. Quần áo của cô bị xé rách và dính đầy máu và bùn đen. Thành phố đã khuya, vắng người qua lại. Cô đau đớn, ê chề, nước mắt lã chã. Cô cố lê từng bước về nhà.

Đến nhà, cô thấy đám người bặm trợn lúc tối đang ở đó. Họ không cho cô vào nhà. Đứa con gái năm tuổi của cô đang đứng khóc chờ cô ở ngoài cửa. Đám người kia thảy cho cô một ít quần áo rồi đuổi cô đi. Hai mẹ con lầm lũi bước đi trong đêm. Vô vọng. Vô định. Nhục nhã.

Họ đi lang thang, ngày qua tháng đến. Bữa đói, bữa no. Cuộc đời dạy cho cô bài học này và trừng phạt cô hình phạt quá lớn. Không biết khi nào cô mới học xong. Cô để dành từng đồng tiền người ta bố thí. Một thời gian, cô không đi ăn xin nữa. Cô đi bán vé số. Cô lại tiếp tục để dành tiền, mua được chiếc xe đạp.

Nhiều đêm, cô nhớ về Đào Thạc, nhớ anh và nhớ đứa con trai da diết. Một ngày, cô quyết định đạp xe chở đứa con gái về thăm ngôi nhà lá năm xưa. Đêm tối, cô đứng ngoài cổng nhìn vào. Cô cứ đứng như thế, khóc nức nở. Cô muốn gào lên hai tiếng “anh Thạc” nhưng cổ họng cô như tắc nghẹn. Tuần nào cô cũng đạp xe về thăm chồng con như vậy, suốt mấy năm trời. Đào Thạc không hề hay biết.

Một buổi tối nọ, cô đạp xe chở con gái về thăm chồng con dưới cơn mưa rào nặng hạt gió rát vào mặt. Từ ngoài cổng nhìn vào, cô không thấy ánh đèn quen thuộc. Ngôi nhà đóng cửa, tối đen. Cô buồn bã đạp xe ra về trong cái lạnh và đói.

Hôm sau cô lại đến. Ngôi nhà im ắng, không ánh đèn. Hôm sau, cô lại đến. Không có chồng con của cô ở đó. Cô hoang mang. Tuần sau cô lại đến. Ngôi nhà vẫn im tiếng.

Mỗi tháng cô vẫn đạp xe về thăm chồng con như vậy. Mỗi lần cô về, cỏ cây trong vườn cao lên thêm một chút, um tùm, buồn thảm, tê tái…

Saigon, 19/08/2021

Phần II