LÝ LỆ GIANG

Phần I

– Nhiêu? – Một thanh niên tầm hai lăm, tấp xe đạp vô lề, hỏi cô.
– Dù ba chục. Phòng, bao. – Từ bên gốc cây, cô trả lời cộc lốc, mắt liên tục dòm trước ngó sau phía hai đầu đường.
– Chị đi trước đi. – Thanh niên nói và đạp xe theo sau cô.

Họ đến một nhà nghỉ bình dân cũ kỹ trên đường Phùng Hưng. Anh chủ nhà nghỉ có cặp mắt hí đang ngồi sát cửa, không hề ngước lên nhìn hai người khách vừa dắt xe bước vào. Cầu thang tối mờ, bốc mùi ẩm ương pha lẫn mùi nhang phảng phất từ bàn thờ ông Địa và Thần Tài. Cô đẩy cửa bước vào một căn phòng. Sàn phòng vương vãi tàn thuốc lá và bao cao su. Mùi mồ hôi chen lấn mùi hương xịt phòng loại rẻ tiền làm cho bất cứ ai vừa bước vào cũng phải nhăn mũi. Nhưng chỉ vài phút là họ quen dần. Tấm ga giường ngả màu vàng úa, loang lổ những vết sậm màu ẩn nấp vụng về trong các nếp nhăn.

Ánh đèn đường màu vàng nhìn qua song cửa sổ, ngán ngẩm chứng kiến những đoạn phim xác thịt diễn ra nhiều lần mỗi đêm. Có lẽ thanh niên đã lâu không chạm vào thứ mùi ướt át của đàn bà nên mọi việc đã diễn ra khá chóng vánh. Cả hai có vẻ hài lòng.

– Cưng mới đi làm về hả? – Vừa bật quẹt đốt điếu thuốc, vừa thả mắt nhìn lên chiếc quạt trần, cô hỏi.
– Dạ. Em làm công nhân ở xưởng đồ nhựa gần đây. Hồi trẻ chị đẹp lắm phải không?

Cô không trả lời câu lời hỏi của thanh niên mà thảy cho thanh niên điếu thuốc đã hút mấy hơi. Cô đứng lên, lẳng lặng nhanh chóng bước ra cửa. Cô tranh thủ trở về với gốc cây quen thuộc, nơi cô làm công việc tiếp thị hàng đêm.

Chợ Lớn về đêm nhộn nhịp đầy sức sống, phô trương và hối hả. Nhưng ở dọc nhiều con đường thưa thớt ánh đèn hiu hắt thì cuộc sống lại lặng lẽ và ảm đạm. Những mảnh vỡ thường tìm đến nơi đây để gắng gượng cúi nhặt những đồng tiền từ tận đáy xã hội, ráng nhét vào những vết nứt vỡ trong cuộc đời của họ.

Để có được một chỗ đứng ở gốc cây làm việc hàng đêm, cô đã phải đương đầu dàn xếp với nhiều thành phần luôn chực chờ hà hiếp và trấn lột cô. Cả đen lẫn đỏ. Thời gian đầu, cô yếu đuối và sợ hãi. Sự cạnh tranh khốc liệt dưới những gốc cây khi đêm về không dành cho những người ẻo lả.

Những ngày mới đến, cô ê ẩm với những đại ca bảo kê chăn dắt. Họ xua đuổi, dọa nạt, đánh đập cô. Cô chịu đựng, van xin. Hàng đêm cô phải trả tiền bảo kê để được yên thân làm việc. Nhiều lúc cô bị cuốn vào những cuộc cãi vã vì giành khách với gái đồng nghiệp, và để kết thúc, họ thường thực hiện những màn ẩu đả. Đại ca bảo kê ít khi can thiệp nên các cô phải luôn biết dừng đúng lúc để không ai bị người sứt đầu kẻ mẻ trán. Họ cần lành lặn ngoại hình, ít nhất là khuôn mặt, để tiếp tục công việc.

Cuộc sống ở đáy xã hội cho cô nhiều cơ hội phải chứng kiến những tình huống vừa mếu vừa khóc. Đáng lẽ ra, những người như cô mới là thành phần lừa lọc nhưng trớ trêu thay, có lần cô lại là nạn nhân. Bữa khuya nọ, có một ông trung niên dừng xe gần gốc cây và kêu cô đi. Họ đến một nhà nghỉ bình dân cũ kỹ trên đường Phùng Hưng. Khi tỉnh dậy, cô không thấy gã trung niên. Mấy trăm ngàn trong túi của cô chắc cũng đã đi theo gã.

Rất nhiều lần cô chứng kiến các hoàn cảnh tật nguyền già cả đáng thương ngồi u uẩn ở những góc đường. Cô không cầm được hai dòng nước mắt vì lòng trắc ẩn của cô quá lớn. Có đêm đạp xe đi làm về, thấy một cụ già ốm yếu nằm bên vỉa hè, sẵn có mấy ổ bánh mỳ, cô cho cụ một ổ. Cô đưa thêm cho cụ mấy chục ngàn, những đồng tiền phết phủ màu ái ân còn nóng mùi mồ hôi nhớp nháp. Cụ lắc đầu, thều thào:

– Cám ơn cô Ba. Tui không lấy tiền đâu. Giờ tui yếu lắm rối, chỉ ngồi một chỗ, không đi đâu được.

Cô cẩn thận cất tiền lại vào túi và lặng lẽ đạp xe đi về. Dù sao cô thấy mình cũng còn may mắn hơn cụ nhiều.Những ngày gần Tết, khách của cô ít hơn. Có lẽ họ về quê hoặc đi du lịch. Gần góc Ngô Quyền và Ngô Gia Tự, mỗi tối thường có anh thương binh cụt hai chân, khoảng ngoài 40, hay ngồi hát với cây đàn guitar đã cũ. Những bài hát tiền chiến anh hát khiến cho nhiều người đi đường dừng lại lắng nghe và để lại cho anh vài tờ tiền lẻ.

Con biết bây giờ mẹ chờ tin con
Khi thấy mai đào nở vàng bên nương
Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về
Nay én bay đầy trước ngõ
Mà tin con vẫn xa ngàn xa

Tiếng hát anh thương binh làm cô nhớ nhà da diết. Cô nhớ mẹ và nhớ ba, nhớ đến thắt lòng những bữa cơm chiều đầm ấm của gia đình những ngày cận Tết. Cô ngồi xuống, gục mặt vào đầu gối mà khóc nức nở.

Sau đêm cô bị đám mặt rô đuổi ra khỏi nhà, trong một lần hai mẹ con cô đói khát đường cùng, cô đã gạt bỏ hết sỹ diện để bước chân về căn nhà của ba mẹ cô, nhưng ông bà không còn ở đó. Cô hỏi hàng xóm, họ cho biết hai ông bà đã đi Mỹ định cư được mấy năm rồi. Họ có đi tìm con gái mấy tháng trời nhưng bặt vô âm tính.

Lý Lệ Giang là một người phụ nữ cứng rắn. Cuộc đời vùi dập cô tả tơi rách nát như tàu lá chuối sau cơn bão. Cô không khuất phục. Mỗi lần bị đời hắt hủi, cô lại đứng lên và lỳ lợm hơn.

Bé Kimo là đứa con gái của cô với tay trạm trưởng. Kimo bị căn bệnh não chậm phát triển. Có lẽ là do gã trạm trưởng say xỉn nhiều quá nên chất cồn và hèm trong máu đã ảnh hưởng đến đứa con gái của ông ta. Mặc dù Lý Lệ Giang rất căm hận gã trạm trưởng vì gã đã tàn nhẫn bỏ rơi cô và đứa con nhỏ, nhưng cô rất yêu thương đứa con của mình.

Cô ước mong một ngày, Kimo và anh trai của nó sẽ được gặp nhau. Lúc đó, có nhắm mắt nằm xuống thì cô cũng sẽ rất hài lòng. Không ngờ ước mơ tưởng chừng như không thể đó lại trở thành hiện thực ngay cái hôm mà bà gặp lại Đào Thạc cách nay vài năm…

… Bà ngừng câu chuyện, nâng ly cappuccino lên miệng uống một ngụm nhỏ. Làn khói trắng mỏng từ điếu Pall Mall Green trên tay bà tỏa ra lơ lửng bay nhẹ vào không khí mang theo mùi thơm thật lạ.

Đây có lẽ là những tháng ngày hạnh phúc nhất của bà. Bà cảm thấy yêu thương ông Đào Thạc vô cùng. Ông lắng nghe bà kể về những năm tháng lầm lỡ, cơ cực với nét mặt trìu mến đầy chia sẻ. Qua bao giông tố trong cuộc đời, nay đã ngoài sáu mươi, nét đẹp quý phái của bà vẫn không hề mất đi. Đôi mắt bà vẫn toát lên một ánh nhìn lôi cuốn và đầy thiện cảm.

– Nè ông, mấy chiếc xe hơi cổ đó đẹp quá. Mình ra đó xin chớp vài pô ảnh đi.
– Bà có muốn tui mua một chiếc xe cổ để chở bà đi dạo hàng ngày không?

Bà Lý Lệ Giang ngạc nhiên nhìn ông. Còn gì tuyệt vời hơn! Giọng nói của ông vẫn ấm áp như ngày nào. Đào Thạc đứng lên, ông nhẹ nhàng nắm tay bà Lý Lệ Giang. Với cử chỉ của một quý ông, Đào Thạc dắt bà đi ra phía những chiếc xe cổ duyên dáng đang đậu trước Hotel Continental Saigon.

Saigon, 30/08/2021

ĐÀO THẠC

Đầu thập niên 1980, Saigon chứng kiến giới doanh nhân và trí thức chế độ VNCH hoảng loạn di cư từ thành phố đến các khu kinh tế mới. Vợ chồng Đào Thạc, với tính bốc đồng của tuổi trẻ, hăng hái đăng ký tham gia cuộc di dân này. Anh và gia đình rời xa thành phố, đi theo tiếng gọi đanh thép từ mảnh đất phèn chua nước mặn để lập nghiệp, ở nông trường An Hạ, thuộc quận 5, TPHCM.

Vợ chồng Đào Thạc là những trí thức trẻ tốt nghiệp đại học Văn Khoa Saigon. Đến nơi, họ cảm thấy vô cùng xa lạ với hoàn cảnh cuộc sống mới. Tay họ chỉ biết cầm cây viết, gãy dây đàn, dìu nhau theo tiếng nhạc của vũ trường. Nay tay họ phải cầm cây rựa và vai họ phải vác cây cuốc, phải phơi mình từ sáng sớm đến tối mịt dưới cái nắng nóng cháy khét sạm da.

Những ngày đầu ở nông trường, một vùng đất nghèo đói, không tài nguyên, cuộc sống của họ luôn đối mặt với vô vàn gian truân. Sự háo hức ngây thơ trước đây bây giờ là sự chán nản đầy hối tiếc. Có những lúc họ tưởng không thể chịu đựng được nữa. Có những lúc, họ chỉ muốn vứt bỏ tất cả để trở về lại thành phố. Nhưng đó chỉ là ước mơ. Thành phố không còn là của họ nữa. Thành phố không có nơi cho họ quay về.

Saigon, cái thành phố phồn hoa kia nay đã là dĩ vãng. Những tháng ngày đẹp đẽ bên nhau dưới ánh đèn lung linh nay chỉ còn là kỷ niệm. Những buổi chiều ngồi nhâm nhi cà phê nhìn dòng người qua lại chỉ còn là ký ức. Những hôm bạn bè rủ nhau râm ran ở tiệm kem Bạch Đằng giờ chỉ còn trong nỗi nhớ. Những chai bia laser mát lạnh với chúng bạn giờ chỉ là nỗi thèm khát vô biên. Họ nhớ lắm những buổi tối nắm tay nhau cùng vào rạp cinema. Họ nhớ da diết giảng đường đại học, nơi tình yêu cháy bỏng của họ nở hoa kết trái.

Họ phải tập làm quen dần với cuộc sống mới. Ở đây không có nước sạch để sinh hoạt hàng ngày. Họ tắm giặt ở dòng nước trong xanh của con kênh Xáng. Nước ở đây nhiễm phèn nặng nên rất trong. Rong và cây cỏ năng là hai loài chủ yếu mọc ở vùng này. Nước tuy trong veo nhưng khi tắm xong, da vừa khô là xuất hiện một lớp màng màu nâu. Dùng tay gãi nhẹ lớp màng này mốc ra như phấn.

Nước dùng để ăn uống là một vấn đề rất lớn. Họ dùng những chiếc lu để trữ nước mưa hoặc phải đạp xe đi mua nước sạch cách nhà năm bảy cây số. Nhà nước chỉ đưa họ đến đây, một nơi hoang vu, không bóng cây cao, không có những tiện ích tối thiểu cho cuộc sống. Họ phải tự sống. Ngày ngày, họ làm bạn với những liếp mía và vườn thơm. Đêm đến, dưới ánh trăng vàng vọt, họ cùng nhau ngồi thưởng thức tiếng muỗi vo ve như tiếng nhạc vĩ cầm.

Có lần, trong lúc đang đi thu hoạch mía, đôi tay tiểu thơ do không thạo dùng dao rựa, vợ anh đã lỡ chặt vào ngón cái, máu tuôn đỏ cả vạt áo. Cái sẹo để lại lớn gần 5cm. Từ hôm đó, vợ anh vứt cuốc, bỏ làm nông. Cô vay mượn tiền của anh chị em bạn bè để lấy vốn đi buôn.

Một thời gian, do làm nông cũng không nổi, Đào Thạc xin vào làm giáo viên dạy ngoại ngữ ở trường PTCS địa phương. Với trình độ của anh thì đúng là một nhân sự mà nhà trường đang cần. Sáng anh dạy ở trường, chiều anh dạy thêm ở nhà. Cuộc sống tạm ổn cứ thế trôi đi.

Thập niên 1990, đất nước đổi mới, thành phố đón chào các dòng thác tiền đầu tư của nước ngoài tới tấp tràn vào. Các doanh nghiệp làm ăn với các đối tác nước ngoài rất cần những người biết tiếng Anh. Đào Thạc thấy được cơ hội. Anh bỏ nghề thầy giáo, đi làm thông dịch cho một doanh nghiệp may mặc lớn của nhà nước. Giám đốc doanh nghiệp là một người từ ngoài Bắc mới vào. Ông ăn to nói lớn, thường dùng tiếng đệm địt đéo để làm cho lời nói có thêm mùi văn chương! Đấy là ông ấy giải thích thế.

Công việc thông ngôn đối với Đào Thạc không có gì khó khăn, vì anh được đào tạo chuyên ngành này trong ban Anh Văn và Pháp Văn ở Đại Học Văn Khoa Saigon trước đây. Ông giám đốc rất trọng dụng anh nên ông dành cho anh nhiều ưu ái. Nhờ lương cao và công tác phí hậu hĩnh, cuộc sống của anh trở nên khá giả. Anh dành dụm tiền mua được căn nhà ở khu cư xá Nguyễn Trung Trực, Q.10 và dọn về đó ở.

Mỗi lần họp với khách nước ngoài, ông giám đốc có lúc lỡ quên hoặc do thói quen, đã vô tư dùng thêm tiếng đệm mà Đào Thạc không cách gì dám dịch cho khách nghe. Đôi lúc anh cũng gặp phải tai nạn nghề nghiệp, do kiểu nói tắt thường có của những người xã nghĩa ở ngoài Bắc. Ông giám đốc thường dùng các từ nói gộp, nói tắt kiểu như “phối kết hợp”, “nông lâm nghiệp”, “công nông trường”, “vườn ao chuồng”, “y bác sỹ”, “khu cao xà lá”, “thanh kiểm tra”…

Khoảng năm 2000, nhờ tính chất công việc, quen biết các đối tác nước ngoài, Đào Thạc nhờ họ giới thiệu và cho con trai anh đi du học ở Mỹ. Sau khi tốt nghiệp The College Of Aeronautics, Florida, chàng trai làm phi công cho hãng Singapore Airlines. Thỉnh thoảng Đào Thạc cũng được con trai mời đi nước ngoài trên chính chiếc máy bay anh con trai lái.

Thập niên 2010, Đào Thạc thường ngồi uống cà phê ở Hồ Con Rùa. Những khi ngồi nhâm nhi cà phê với bạn bè ở Hồ Con Rùa, Đào Thạc thường kêu mấy đứa trẻ lại để đánh giày cho ông. Ông bo rất sộp. Ông cũng thường mua vài tờ vé số của những người bán dạo. Ông ít khi lấy lại tiền thối. Ông mua cũng chỉ để quên đó chứ ít khi ông dò. Vì có trúng đâu mà dò.

Những ngày cuối năm, đường phố Saigon thường vắng hoe. Đào Thạc trầm tư nhâm nhi ly cà phê một mình ở góc Hồ Con Rùa quen thuộc. Những lúc một mình, ông thường đeo cặp kính mát hình giọt lệ hiệu Rayban, lơ đãng ngắm nhìn xe cộ lưa thưa qua lại. Ông thả hồn bay theo những bài hát trữ tình tiếng Pháp. Ông rất thích những lúc cô đơn như thế này. Nó cho ông những khoảng thời gian tuyệt vời nhất để gặm nhấm lại những kỷ niệm. Cuộc sống bao thăng trầm, bao đổi thay, bao mất mát và đau khổ. Nhưng tất cả cũng đã qua đi, giờ chỉ còn là ký ức. Ông ngồi lặng lẽ, bồi hồi chìm vào dĩ vãng…

… Vợ anh từng là một nữ sinh xinh đẹp, là hoa khôi của trường Văn Khoa Saigon. Cô thu hút những ánh mắt ngây dại của các nam sinh. Cô còn là sự ganh tỵ của các nữ sinh qua những cái liếc mắt dài vô tận. Nhiều chàng trai si tình vật vã vì nhan sắc của cô. Họ chết mê chết mệt vì mái tóc bồng bềnh xõa xuống, chạy dọc theo những cung đường cong dưới lớp tà áo dài. Đào Thạc khéo văn nghệ lại còn học giỏi. Anh may mắn chiếm được trái tim nóng dại của cô hoa khôi.

Cuối thập niên 1970, họ cưới nhau. Không lâu sau đó, họ xung phong đi kinh tế mới. Cuộc sống khó khăn cực khổ ở vùng kinh tế mới để lại trong cuộc đời họ nhiều kỷ niệm. Vui có, buồn có. Mùa mưa năm 1985, một hôm đi dạy về, Đào Thạc thấy một bức thư trên bàn, anh mở ra. Những nét chữ quen thuộc của vợ anh chợt nhạt nhòa.

Anh Thạc,
Em không chịu nổi cuộc sống cực khổ ở chốn khỉ ho cò gáy này nữa. Em ra đi. Tiền bạc em để lại. Anh nuôi con giùm em.
Em ngàn lần xin lỗi.
Lý Lệ Giang

Bức thư ngắn ngủi của vợ làm cho Đào Thạc bất ngờ. Anh bàng hoàng, đau đớn vô cùng. Anh không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Anh đang ngủ mơ chăng? Anh không biết đi tìm vợ ở đâu. Anh đi hỏi thăm người nhà của vợ, bạn bè của vợ, nhưng không ai biết cô ở đâu. Cuộc sống của anh rơi vào bế tắc cùng cực. Một mình anh nuôi đứa con ba tuổi sẽ không hề dễ dàng gì. Thật tội nghiệp cho nó. Mẹ nó bỏ đi khi nó còn quá nhỏ. Nhiều đêm nó giật mình thức giấc, khóc thét kêu mẹ…

Đào Thạc chợt giật mình, ông thoát ra khỏi dòng suy tưởng… Có tiếng phụ nữ mời ông mua vé số. Không kịp suy nghĩ gì, như một thói quen, ông uể oải cầm xấp vé số và lấy vài tờ. Ông móc bóp trả tiền. Khi người phụ nữ đưa tay cầm tờ hai mươi ngàn đồng, Đào Thạc vô tình nhìn vào bàn tay nhăn nhúm già nua của bà. Ở đó có một vết sẹo dài. Ông bất giác nhìn lên gương mặt người phụ nữ. Ông thoáng cảm thấy có một dòng sét đánh thẳng vào tim. Ông chợt thốt lên:

– Lệ Giang!

Người phụ nữ ngơ ngác đứng im một lúc. Bà bỗng run rẩy, nước mắt tuôn trào. Xấp vé số trên tay bà rơi xuống đất. Giọng nói của Đào Thạc trong tim bà vẫn luôn ấm áp như ngày nào. Đào Thạc đứng lên, ông nhẹ nhàng cầm tay bà Lý Lệ Giang, dìu bà ngồi xuống ghế…

… Nhờ vay mượn tiền làm vốn, vợ anh bắt đầu đi buôn lậu. Cô xuống miệt miền Tây mua gạo và thịt heo, rồi đem lên Chợ Lớn bán cho các vựa buôn sỹ của người Hoa. Thời gian đầu, vì chưa quen nên nghề buôn lậu rất bấp bênh. Tiền lời mỗi chuyến tuy cao nhưng mỗi lần bị bắt là đứt vốn. Có nhiều lần cô bị bắt và bị tịch thu hàng, cô khóc lóc, quỳ xuống năn nỉ.

Vợ Đào Thạc thông minh, sắc sảo. Sắc đẹp trời cho của gái một con đã giúp cô thoát nhiều phen tưởng chừng như mất trắng trong các chuyến đi hàng. Dần dà, cô làm quen được với tay trưởng trạm chống buôn lậu ở Bến Lức. Tay này từ Thanh Hóa vô, nổi tiếng xử rắn, bắt được hàng là tịch thu, không xin xỏ. Ông ta cũng nổi tiếng là một tay nhậu nhẹt không đối thủ. Hầu như ngày nào ông ta cũng nhậu nhẹt, say xỉn. Trạm này bị dân buôn lậu bán chết cho cái tên là ‘trạm hố bom’ vì nếu bị trạm này bắt là tịch thu, không tha. Từ khi làm quen được với tay trưởng trạm, những chuyến hàng của cô không còn là vài chục ký nữa mà là hàng chục dạ gạo.

Để các chuyến hàng qua được trạm trót lọt, cô phải chiều tay trưởng trạm Bến Lức mỗi khi anh ta đòi hỏi. Họ thường hẹn nhau vào các khách sạn ở Chợ Lớn. Với bản tính háo thắng, anh ta vồ lấy cô như muốn nuốt chửng cả cơ thể của cô. Giày vò, ngấu nghiến, mệt nhoài.

Những lần đầu, cô cảm thấy vô cùng tội lỗi. Khi về đến nhà, cô mệt mỏi, chán chường. Nhưng ma lực đồng tiền cứ nhảy nhót cuốn cô đi, khiến cô giãy giụa trong những cơn bão xác thân vụng trộm mà cô không thể nào thoát ra được. Cô chìm dần.

Sau những cuộc mây mưa trăng gió, họ thường đến ăn tối ở nhà hàng Ngọc Lan Đình, nổi tiếng ở Chợ Lớn. Dần dà, cô có cảm giác quen với mối quan hệ này. Vài ngày không gặp nhau là cô cảm giác như thiếu gì đó. Cô trở nên chưng diện và thờ ơ với chồng.

Một hôm, cô để lại cho chồng một lá thư và dứt áo ra đi. Cô bỏ chồng bỏ con, đi theo gã trưởng trạm, làm lẽ. Từ đó, cô trở thành vợ bé của ông ta. Ông ta mua cho cô một căn nhà ở quận 5. Cô không còn trực tiếp đi buôn lậu nữa mà ở nhà điều khiển mấy đứa đàn em đi hàng. Công việc buôn lậu của cô phất lên như diều gặp gió.

Một buổi tối, khi cô và tay trạm trưởng đang ăn tối ở nhà hàng, một đám bốn năm người mặt mày hung dữ từ ngoài lao đến bàn của họ. Tay trạm trưởng mặt tái mét, ngồi như trời trồng. Ông ta lý nhí trong miệng “ơ kìa, này, ơ kìa, này, này…”. Một người phụ nữ trong đám, đứng tuổi, dáng đẫy đà, mặt hoa da phấn giận dữ, trợn mắt chỉ thẳng vào mặt cô, hét lớn:

– Địt mẹ. Con mặt luồn này cướp chồng bà. Bọn mày đánh chết nó cho tao…

Nói chưa dứt câu, bà ta vung tay táng cho cô mấy bạt tai. Cô choáng váng, ngất lịm đi.

Khi tỉnh dậy, cô thấy mình đang nằm ở vỉa hè, khắp người ê ẩm, mặt cô sưng vù. Quần áo của cô bị xé rách và dính đầy máu và bùn đen. Thành phố đã khuya, vắng người qua lại. Cô đau đớn, ê chề, nước mắt lã chã. Cô cố lê từng bước về nhà.

Đến nhà, cô thấy đám người bặm trợn lúc tối đang ở đó. Họ không cho cô vào nhà. Đứa con gái năm tuổi của cô đang đứng khóc chờ cô ở ngoài cửa. Đám người kia thảy cho cô một ít quần áo rồi đuổi cô đi. Hai mẹ con lầm lũi bước đi trong đêm. Vô vọng. Vô định. Nhục nhã.

Họ đi lang thang, ngày qua tháng đến. Bữa đói, bữa no. Cuộc đời dạy cho cô bài học này và trừng phạt cô hình phạt quá lớn. Không biết khi nào cô mới học xong. Cô để dành từng đồng tiền người ta bố thí. Một thời gian, cô không đi ăn xin nữa. Cô đi bán vé số. Cô lại tiếp tục để dành tiền, mua được chiếc xe đạp.

Nhiều đêm, cô nhớ về Đào Thạc, nhớ anh và nhớ đứa con trai da diết. Một ngày, cô quyết định đạp xe chở đứa con gái về thăm ngôi nhà lá năm xưa. Đêm tối, cô đứng ngoài cổng nhìn vào. Cô cứ đứng như thế, khóc nức nở. Cô muốn gào lên hai tiếng “anh Thạc” nhưng cổ họng cô như tắc nghẹn. Tuần nào cô cũng đạp xe về thăm chồng con như vậy, suốt mấy năm trời. Đào Thạc không hề hay biết.

Một buổi tối nọ, cô đạp xe chở con gái về thăm chồng con dưới cơn mưa rào nặng hạt gió rát vào mặt. Từ ngoài cổng nhìn vào, cô không thấy ánh đèn quen thuộc. Ngôi nhà đóng cửa, tối đen. Cô buồn bã đạp xe ra về trong cái lạnh và đói.

Hôm sau cô lại đến. Ngôi nhà im ắng, không ánh đèn. Hôm sau, cô lại đến. Không có chồng con của cô ở đó. Cô hoang mang. Tuần sau cô lại đến. Ngôi nhà vẫn im tiếng.

Mỗi tháng cô vẫn đạp xe về thăm chồng con như vậy. Mỗi lần cô về, cỏ cây trong vườn cao lên thêm một chút, um tùm, buồn thảm, tê tái…

Saigon, 19/08/2021

Phần II

NĂM BÊ

Đầu thập niên 1990, nhà nước từng bước siết chặt điều kiện sử dụng xe gắn máy. Khi sử dụng xe máy, mọi người bắt buộc phải đem theo giấy phép điều khiển xe. Lúc đó hình như mới chỉ có một trung tâm sát hạch và cấp bằng ở tuốt Củ Chi.

Trong một lần đi Củ Chi để thi lấy giấy phép điều khiển xe máy, lúc còn cách trường thi khoảng vài cây số thì xe của tôi bị xẹp bánh. Đang loay hoay hoang mang đẩy bộ giữa khúc đường vắng, tôi chợt nghe có tiếng xe đạp đến gần phía sau. Giọng một người đàn ông hỏi:

– Chú cần giúp không?
– Dạ, có! – Tôi quay nhìn qua nói – Xe em bị xẹp bánh. Gần tới giờ thi lấy bằng lái rồi. Không biết làm sao cho kịp giờ.
– Chú lấy xe tui mà đi nè. Để xe chú đó tui đẩy đi vá cho. Chút xong tui chạy tới cổng trung tâm đưa cho chú.

Tôi mừng húm, không kịp suy nghĩ gì, chỉ kịp nhảy qua xe của ảnh đạp lẹ tới chỗ thi. Sau khi thi xong, dắt xe ra tới cổng thì tôi thấy ảnh đã đứng chờ ở đó. Tướng ảnh nhỏ thó, đen mun, rắn chắc.

Tôi tình cờ quen với anh Năm Bê trong tình huống như vậy. Ảnh là dân Củ Chi chính gốc, cởi mở nhưng kiệm lời, tốt bụng nhưng cộc tính. Trưa đó ảnh rủ tôi ghé qua nhà ảnh chơi, sẵn ra quán lai rai ít bò tơ nổi tiếng với đế Củ Chi thơm nức mũi. Thấy ảnh nhiệt tình quá nên tôi cũng không nỡ từ chối.

Lòng vòng theo ảnh một hồi qua các con đường quanh co, đầy bóng cây, tôi với ảnh tới một căn nhà lá nhỏ xíu. Trong nhà, vợ ảnh đang nấu cơm trưa. Vợ ảnh cũng nhỏ con như ảnh, ốm nhom và xanh xao. Có lẽ chỉ đang bị bệnh gì đó.

Thằng con ảnh tôi đoán chắc khoảng sáu bảy tuổi, đang ngồi chơi với mấy con gà trong sân. Mặt nó lem luốc, nước mũi chảy xuống miệng, nó thè lưỡi liếm. Ảnh chạy tới nhẹ nhàng ẵm nó lên, nói với tôi:

– Nó năm nay được mười hai tuổi rồi, nhưng ở nhà chứ không đi học vì bị thiểu năng.

Ảnh đi vô nhà lấy ra một chai đầy mà tôi nghĩ cái nước trắng đục bên trong là ba xị đế. Rồi ảnh quay vô nhà, nói với vợ:

– Tui với chú Tứng đây ra ngoài quán Bảy Tơ nhậu. Ở nhà mình với con cứ ăn cơm trước đi nghen.
– Dạ. Uống ít thôi nha mình.

Cách mà hai anh chị nói chuyện với nhau thật đầm ấm. Tôi cảm nhận ngay ra rằng họ rất thương nhau và họ rất yêu thằng con của mình.

Lại quanh co một hồi nữa, chúng tôi mới tới được quán Bảy Tơ. Tên là Bảy Tơ nhưng ông chủ cũng phải lục tuần. Lông ổng cũng không còn tơ chớ đừng nói tới người. Quán nằm bên cạnh sông Saigon, gió từ sông thổi lên mát rượi. Thoang thoảng ở quán lúc nào cũng có mùi cứt bò pha nhẹ với mùi tanh của phù sa từ dưới sông theo gió bay lên. Với tôi thì mùi cứt bò pha phù sa này dễ chịu hơn gấp trăm lần mùi cứt gà pha nước mũi.

Hai anh em trò chuyện một hồi hết nửa chai rượu. Anh Năm Bê bắt đầu ngà ngà. Giọng ảnh trầm lại, không lè nhè, ảnh kể:

– Năm 1970, mười lăm tuổi, tui bí mật tham gia cách mạng tại địa phương. Vì chỉ mới mười lăm tuổi nên tui không được cầm vũ khí. Tui được anh Ba Lưu cấp trên cho đi học lớp du kích vào buổi tối. Tui học hăng say lắm. Các anh giảng cho chúng tôi biết thế nào là người cách mạng yêu nước, thế nào là kẻ bán nước. Tui âm thầm vót chông và đặt ở những khu vực lính VNCH hay đi qua.

– Có ai bị sập hầm chông của anh không? – Tôi hỏi.

Giọng anh Năm Bê nhỏ lại như chỉ muốn mình tôi nghe:
– Có một lần. Bữa đó hai thằng lính rớt xuống. Hôm sau cả khu địa đạo đó bị trực thăng bắn nát, san phẳng. Mấy hôm sau má tui đi đám tang về nói, thằng Luống con cậu Tư em của má đi lính VNHC, bị sập hầm chông chết. Nó mới mười tám tuổi. Tui biết liền nó sập hầm của tui. Tui không dám nói gì. Từ bữa đó, tui không đặt chông nữa.

Gần hết chai đế, thấy ảnh cũng mệt nên tôi tính tiền, đi về. Với lại trước khi đi nhậu vợ ảnh cũng có dặn về sớm rồi.

Vì bận công việc và cũng không có đi đâu hướng Củ Chi nên khoảng hai năm sau tôi mới có dịp ghé lại thăm anh Năm Bê. Hôm đó tôi đi công tác Tây Ninh. Tôi có đem theo một ít bánh kẹo, đồ chơi và quần áo làm quà cho con ảnh.

Khi đến nơi, tôi thấy ảnh đang ngồi hút thuốc trước sân. Vừa thấy tôi, ảnh đứng dậy, chạy ra:
– Trời đất. Đi đâu lâu dữ thần vậy Tứng! Ra Bảy Tơ làm bậy xị nha.

Tôi đưa quà cho ảnh và nói:
– Em có ít bánh kẹo cho thằng cu nè anh Năm.
– Nó chết rồi. – Mắt anh bỗng đỏ hoe, mặt anh buồn rười rượi. – Hôm qua là bốn chín ngày của nó.

Tôi lặng người, cầm gói quà bước vào trong nhà, đến đặt lên bàn thờ và thắp cho thằng bé nén nhang. Chú có quà cho con đây. Mong con đầu thai vào một thân phận lành lặn nhé.

Chạy xe theo ảnh mà trong đầu tôi cứ thấp thoáng hiện ra hình ảnh thằng cu lem luốc đang chơi với mấy con gà.

Anh Năm Bê ngồi uống trầm ngâm. Ảnh không nói gì. Mắt đờ đẫn. Tôi cũng im lặng nhìn ảnh. Một hồi sau, anh mới từ từ nhả làn khói thuốc, nói như chỉ muốn mình ảnh nghe:
– Nó bị suy dinh dưỡng và tiêu chảy. Nhà không có gì đáng giá để bán lo tiền nhà thương. Vợ chồng tui ngồi nhìn con khóc vì đau đớn mà không cầm được nước mắt. Nó là đứa con duy nhứt của vợ chồng tui. Bả bị bệnh không đẻ được nữa. Tui cũng bị gan nó hành do hồi làm du kích bị nhiễm khói da cam.

Tôi chỉ biết ngồi im lặng lắng nghe. Thương anh chị và thương thằng cu quá. Tội thằng cu cứt gà quá. Đời nó chưa một lần được ăn ngon mặc đẹp. Âu cũng là một kiếp người. Kiếp khổ.

Rót một ly đầy rồi uống cạn, anh Năm Bê nhăn mặt, rít một hơi dài đỏ sáng đầu điếu thuốc. Ảnh thì thầm tiếp:
– Sau vài năm làm du kích, tui không muốn nhìn cảnh bà con chòm xóm bắn giết lẫn nhau nữa nên tui xin cấp trên cho vào thành. Tui được huấn luyện cách sử dụng lựu đạn để giết mấy vị sỹ quan VNCH.

Tính tui lỳ lợm và chân tay lanh lẹ nên mỗi lần quăng lựu đạn, tui chạy biến nhanh như sóc, không ai bắt được. Tui cũng thực hiện thành công mấy lần, được cấp trên khen thưởng và kết nạp đảng cộng sản. Tui tự hào lắm.

Một lần, vào dịp gần ngày Giáng Sinh năm 1974, tui được giao nhiệm vụ giết đại úy Huỳnh Kan. Tụi tui theo dõi và lên kế hoạch rất cẩn thận. Sáng hôm đó, Huỳnh Kan trên xe Jeep chạy tới chợ Bến Thành. Khi chiếc xe Jeep vừa đến dừng ở cổng chợ, tui lập tức rút chốt lựu đạn, quăng vào trong xe. Nhanh như sóc, tui chạy ngược lại chừng hai mươi thước và nhảy lên một chiếc Honda 67 đang nổ máy chờ sẵn. Sau tiếng nổ đanh thép, khói nồng nặc, tui thoáng thấy bóng hai nữ sinh áo dài ngã xuống, máu lan loang lỗ. Trái lựu của tui bị va vô nón sắt của một lính cận vệ, văng ra ngoài. Đúng lúc đó, hai nữ sinh vừa đến. Tụi tui phóng thẳng về hướng quận Tư.

Từ hôm đó, tui bỏ nghề quăng lựu đạn, trốn về nhà. Hình ảnh hai nữ sinh vô tội bị chết ám ảnh tui đến bây giờ. Tui ân hận lắm.

Gần hết chai rượu và anh Năm Bê cũng đã mệt. Tôi tính tiền để đi về. Dáng ảnh đi vào nhà loạng choạng, xiêu vẹo, thật tương phản với hình ảnh một thanh niên nhanh nhẹn thuở nào.

Gần Tết năm đó, có việc đi công tác Tây Ninh, tôi lại ghé thăm anh Năm Bê. Vào đến gần nhà ảnh, tôi không thấy căn nhà lá của ảnh đâu nữa. Hỏi người hàng xóm, họ nói ảnh bán nhà rồi dọn vô tuốt trong ruộng.

Lần theo sự chỉ đường của anh hàng xóm, tôi tìm đến căn chòi của anh Năm Bê. Căn chòi chỉ có một cái giường nhỏ và một cái cái bàn thờ. Trên bàn thờ là hai tấm ảnh. Tôi bất giác rùng mình.

– Anh Năm, chỉ mất rồi hả? – Tôi nghẹn giọng.
– Bả cũng đi với thằng Gà rồi. Bả bỏ tui mà đi rồi.

Giờ tôi mới biết thằng cu tên Gà. Giọng anh Năm tỉnh queo, khàn khụa, yếu ớt và đều đều như người tụng kinh:
– Thằng Gà chết để lại cho bả quá nhiều đau đớn. Bả buồn rồi sinh bệnh, nằm liệt giường. Tui phải bán miếng đất ngoài đó để lo tiền chạy chữa cho bả. Nhưng không đủ. Giờ hai má con cũng yên giấc ngàn thu gần bên nhau. Có một điều vẫn làm tui day dứt mãi. Lúc mới cưới, bả nói, “Khi nào tụi mình có tiền, mình đưa em đi Vũng Tàu chơi một bữa nghen. Em chưa biết biển lần nào.” Bả chưa nếm vị mặn của biển lần nào. Nhưng vị mặn cuộc đời thì cứ bám theo bả miết.

Giờ đây, tui không còn gì để đáng sống nữa. Tui tin là có cái nghiệp. Tui đã gieo nghiệp chướng. Giờ tui trả. Trả xong thì tui đi. Chú Tứng tin có nghiệp không?

Tôi im lặng gật đầu. Tôi đứng lên, bước ra cửa đi về mà không một lời chào anh Năm. Ảnh ngồi đó, im lìm, bất động.

Sau Tết năm đó, tui ghé thăm anh Năm, tiện đem một ít tiền, do bạn bè góp lại, để giúp ảnh làm lại căn nhà. Khi đến nơi thì anh hàng xóm nói anh Năm vừa mất. Ba người bây giờ lại được sum họp. Hy vọng ở nơi nào đó, anh chị và cu Gà bớt khổ hơn. Không biết ảnh có trả hết nghiệp chướng chưa.

Còn tôi, tôi tin rằng nghiệp chướng là có.

— — —
Saigon, 27.07.2021

Xem Facebook

KẺ HÀ TIỆN

Thập kỷ 1980s, khi Việt Nam đa số dân còn ăn bo bo, ăn cơm độn khoai mỳ trộn bông cỏ thì hà tiện là một việc mà hầu như mọi người phải thực hiện. Nó được mặc định như việc chúng ta phải đeo khẩu trang khi đi ra đường trong thời dịch bệnh virus trung khửa hiện nay.

Hà tiện là gì vậy? Hà tiện có nghĩa như tiết kiệm nhưng hà tiện mang tính bi quan, bị động, ép buộc và tư tưởng tiêu cực nhiều hơn là tích cực.

Vì cuộc sống quá khó khăn nên dân chúng xài bất cứ thứ gì cũng phải hà tiện. Lời nói cũng phải hà tiện. Nói năng xả láng, không đúng chỗ là gặp khó với nhà cầm quyền ngay. Các thế hệ trẻ sau này có thể không bao giờ tưởng tượng nổi những khó khăn lạ lùng này. Đó là điều may mắn.

Gia đình tôi đến lập nghiệp sinh sống ở khu kinh tế mới sát bên nách Saigon. Đạp xe chừng hơn hai tiếng là đến Chợ Lớn. Khi mới đến, vùng này hoang vu, thưa thớt, chỉ có cỏ năng. Đó là một vùng rộng lớn phèn lầy. Ban ngày nắng đốt rát da, người đen như cành củi cháy. Ban đêm lắng nghe những bản dạ khúc của đất trời, côn trùng và muỗi, buồn thê thảm.

Cái quý nhất ở mảnh đất này không phải là vàng hay kim cương hay đô la, mà là nước. Nước hiếm và quý nên nhà nào cũng hà tiện nước, chỉ được dùng để uống và nấu ăn.

Người ta tích trữ nước mưa trong những cái lu để dùng vào sáu tháng mùa khô. Khi hết nước mưa thì đi mua nước máy, từng thùng một. Từ chỗ nhà tôi đến chỗ mua nước khoảng ba cây số. Tôi treo hai thùng nước phía sau xe đạp, mỗi chiều tối vài chuyến. Nhiều lúc trên đường chở nước về, có người hỏi mua lại. Tôi bán kiếm lời. Mười lăm tuổi đã bán nước.

Vì sống ở vùng đất khô cằn thiếu nước như vậy nên tôi mau chóng quen dần với cách sống hà tiện nước. Nó trở thành bản năng sinh tồn.

Cái thói quen hà tiện nước này vẫn theo tôi suốt đến bây giờ. Ví dụ, khi tắm, tôi thường giữ nước lại để sau đó dội bồn cầu. Tôi thấy người Nhật họ làm lavabo chảy vào thùng chứa bồn cầu. Thật hay.

Có lần tôi lên núi Bà Tây Ninh, thấy các vị tu sống trên đó dùng một đoạn ống dẫn nước suối cho chảy ra mà không tắt đi. Tôi nghĩ trong đầu, sao phí vậy ta.

Mùa hè năm 2018, trong chuyến Huê Kỳ đường bộ ký, tui tận mắt thấy nhiều khách sạn họ luôn ghi mấy chữ nhắc nhở khách tiết kiệm nước. Thật hay. Ở khách sạn, tôi chỉ dùng một chiếc khăn nhỏ của tôi để tắm. Khi tôi đi rồi, có một số khách sạn gửi email cảm ơn, họ không quên cảm ơn tôi việc tiết kiệm nước!

Mùa đông năm 2019, trong chuyến đi cày xứ Âu, ở khách sạn, một người dọn phòng không nhịn được thắc mắc, đã hỏi tôi, rằng tại sao cô ấy không thấy tôi dùng bất cứ cái khăn nào của khách sạn. Cô ấy cũng không thấy những cái khăn nào của tôi, ngoại trừ một cái khăn nhỏ kích thước 30cm X 40cm. Tôi trả lời với cô ấy rằng tôi quen với lối sống đơn giản và hà tiện nước. Tôi cũng không quên dặn cô ấy rằng không cần dọn phòng của tôi. Cô ấy tròn xoe mắt nhìn tôi một cách lạ lùng, chắc ông này từ trong rừng mới ra và không biết tắm!

Tôi không biết cách sống hà tiện nước của tôi có ích lợi được gì cho mẹ thiên nhiên không. Điều đó quan trọng đối với tôi. Đơn giản là vì tôi luôn quan niệm, “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước.”
Dù ai nghĩ gì, tôi vẫn là một kẻ hà tiện, hà tiện nước.

Saigon, 23.07.2021

VẸT & ẾCH

Năm 1986, Việt Nam chính thức thực hiện chính sách đổi mới kinh tế. Năm 1989, cách mạng mùa Thu đã đưa hệ thống các nước XHCN ở châu Âu đi vào lịch sử. Từ năm 1990, các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu bước chân vào làm ăn ở Việt Nam. Thiếu niên và thanh niên hồ hởi rủ nhau đi học tiếng Anh để có cơ hội làm việc với nước ngoài. Các trung tâm Anh ngữ ở Saigon mọc lên như nấm.

Cũng khoảng đầu năm 1990, tui được anh Khoa và anh Điểm lôi kéo rủ rê về tham gia “Parrot English Speaking Club”, do hai anh sáng lập. Thành viên tham gia CLB Con Vẹt rất đông, đủ thành phần và độ tuổi. Thỉnh thoảng tụi tui lang thang ngoài quận nhứt, tìm gặp khách nước ngoài và mời họ đến tham gia CLB. Có lúc cao điểm, thành viên lên đến năm sáu chục người. Không khí sinh hoạt rất sôi nổi, vui vẻ và thân mật.

Ba anh em tui bàn với nhau mở lớp dạy tiếng Anh và dạy đánh máy chữ ngay tại CLB Con Vẹt. Nói là làm. Ngay sau đó, mười cái máy đánh chữ được mua về. Bàn ghế, bảng, sách báo đầy đủ.

Ngoài việc dạy tiếng Anh ở tại CLB, tui còn đi dạy kèm thêm ở nhà học viên. Trong số các học viên, có hai vợ chồng là doanh nhân thành đạt trong ngành sản xuất. Họ muốn mở rộng kinh doanh, xuất khẩu hàng ra nước ngoài, đặc biệt là các nước Phi châu. Sau buổi học đầu tiên, chị vợ thắc mắc:
– Tuấn học tiếng Anh từ lúc nào, mới nhiêu đây tuổi mà đi dạy hay vậy?
– Dạ, hôm nào rảnh, mời anh chị đến chỗ CLB của tụi em, sẽ có lời giải đáp ngay.

Vậy là, tuần học ba buổi tối ở văn phòng công ty, ba buổi tối còn lại, hai anh chị tham gia CLB Con Vẹt. Từ đó, họ tài trợ nước uống và snack, như là lời cảm ơn đến các thanh viên trong CLB.

Những lần đi tiếp khách nước ngoài, anh chị thường kêu tui đi theo để làm phiên dịch. Lúc đó, ảnh chạy xe hơi, chiếc Citroen DS19. Một chiếc xe đặc biệt lạ lùng cả về kiểu dáng thiết kế như chiếc phi thuyền, lẫn cảm giác êm ái khi ngồi trong xe. Cái đầu xe với cặp đèn pha như mắt con ếch trông khá cổ điển, để lại cho tui ấn tượng không thể nào quên cho đến tận bây giờ. Lần đầu thấy chiếc xe Citroen DS19 này trong sân công ty anh chị, tui há hốc mồm thắc mắc, làm sao nó chạy được khi cái bụng nó nằm bẹp dí sát đất? Chưa hết ngạc nhiên này thì năm phút sau tui lại tròn mắt sửng sốt với tính năng khác có một không hai của nó. Khi ảnh nổ máy, xe từ từ nâng phía sau lên rồi nâng phía trước lên, y hệt như một con vật đang nằm và từ từ bò dậy.

Thôi, tui tả nhiêu được rồi. Nếu anh chị em nào muốn biết thêm về những điều lý thú của Citroen DS thì cứ chiều Chủ Nhật hàng tuần, ghé Continental Shelf, làm ly cà phê, tán dóc với các anh chị em CLB Xe Cổ Saigon.

Trở lại chuyện hai anh chị giám đốc. Họ luyện tiếng Anh tiến bộ rất nhanh. Từ kiến thức bập bẹ, chỉ sau sáu tháng, họ đã tự tin giao tiếp với khách hàng nước ngoài mà không cần tui lẽo đẽo theo làm phiên dịch nữa. Đúng là người giỏi làm cái gì cũng nhanh gọn hơn người khác. Thất nghiệp rồi, tui cũng tiếc và buồn lắm!

Khoảng đầu năm 1992, tui xin được việc làm ở một doanh nghiệp nhà nước, ngành giao nhận vận tải quốc tế. Hồi mới đi làm, tui chỉ biết cắm đầu vào công việc. Trong công ty, tui làm bất cứ việc gì, ai sai gì làm đó. Từ việc lau sàn nhà, lau bàn ghế, nấu nước, pha trà, ra cảng kiểm đóng hàng lẻ, lên sân bay kiểm dán sticker, rồi đánh máy văn bản, dịch chứng từ, làm phiên dịch cho các sếp, đi lấy công văn, đi sân bay đón đối tác nước ngoài… tui đều hào hứng đi làm hết. Mỗi khi có ai sai đi làm gì, tui rất mừng. Trong bụng tự sướng: “Hề hề hề, ai cũng thích kêu mình làm!”

Mỗi ngày tui vô sở làm lúc 7 giờ, và nếu hôm nào không phải đi học thêm thì tui là người cuối cùng từ văn phòng ra về. Tui không quan tâm đến lương bổng bao nhiêu mặc dù hai cái túi quần lúc nào cũng rỗng hoác. Tui đi làm vẫn bằng chiếc xe đạp cũ cà tàng, đạp năm vòng thì tuột sên hai vòng. Làm đủ thứ như vậy nhưng tui không bao giờ nghĩ rằng mình bị bóc lột, bị đì hay bị lạm dụng gì sất. Đơn giản là tui thích lăn lộn, thích tự mài giũa và thích cày bừa. Tui rất sợ bị mọi người nghĩ: “Thằng này lười lắm, quên nó đi!” Đó là sự sỹ nhục không thể chịu nổi.

Nhờ những năm tháng tuổi trẻ bừa như bò, cày như trâu, kéo như ngựa, được quăng quật lăn lóc vùi dập te tua nên sau này bước chân ra tự thân làm việc, dù gặp nhiều khó khăn và cản trở đủ thứ, tui vẫn chịu đựng được để tìm cách leo trèo vượt qua.

Cách đây chừng thập kỷ, có cơ hội tham gia sinh hoạt cùng anh chị em trong hội xe cổ Saigon (Saigon Classic Car Club), tui đã có duyên mua được chiếc Citroen DS19 mà tui hằng ao ước. Chiếc xe của anh Huy, lúc tui mua về mặc dù còn chạy được nhưng cũng đã khá rệu. Hôm anh Huy đồng ý nhường chiếc xe cho tui, tui mừng muốn rơi nước mắt, không thốt nên lời. Tối về thao thức, không ngủ được.

Nhờ sự tư vấn và khích lệ cũng như thách thức của các anh như anh Tâm Cá Hô, anh Ngọc Việt Kiều, Anh Khoa 2CV, anh Dzung Tran, anh Tư Biển Sáng, anh Bản Ngựa… tui cũng đã lột chiếc Citroen DS19 ra đại tu. Sau hơn nửa năm gian khổ với nhiều cung bậc cảm xúc hỷ nộ ái ố, cuối cùng chiếc xe Citroen DS19 cũng được xuất xưởng, long lanh, mỹ miều, vi vu.

Hôm chạy chiếc xe Citroen DS19, con ẾCH mơ ước của tui, từ garage về nhà, tui cảm thấy như cả thành phố Saigon trở nên thật đáng yêu, ai ai cũng rạng rỡ, tươi cười và xinh đẹp.

Saigon, 11/07/2021

Xem Facebook

MINH KE

Trường THPT Hùng Vương là một trường lớn ở Quận 5. Thập niên 1980, trường Hùng Vương nổi danh với hai thứ. Một là phong trào đốt pháo khi Tết đến. Hai là thường xuyên kéo nhau qua các trường lân cận khác để oánh lộn.

Có lần, vào một buổi chào cờ sáng thứ Hai, nhân dịp có một số quan chức trên sở GD thành phố về dự, cô hiệu phó hỏi toàn học sinh:

– Trường Hùng Vương chúng ta có truyền thống gì các em?
– Oánh lộn! – Học sinh đồng thanh trả lời.

Ở trường Hùng Vương, tui chơi thân với thằng Minh Ke. Tụi tui chơi thân với nhau ngay từ hôm mới vào trường khai giảng. Nó cao hơn tui cái đầu nhưng ốm nhom, như con nghiện. Tướng đi rề rà của nó luôn phát ra tiếng cà xẹt cà xẹt của đôi xăng đan đạp quai sau kéo sát đất. Vì cái tướng ốm nhom đó nên tụi lớp tui quăng cho nó cái tên Minh Ke. Nó nghe chỉ nhe răng cười: “Phủ bó. Đi chết đi!”.

Minh Ke là người Tiều, tên đầy đủ là Lý Vĩnh Minh, nhà ở đường Lão Tử, quận 5, Chợ Lớn. Nó có khiếu hài hước. Có lần nó đi học trễ, vừa bước vô lớp thì bị cô giáo dạy văn hỏi lý do. Mặt tỉnh bơ, nó trả lời:

– Dạ, em vẽ tranh nên quên mất giờ đi học.
– Em vẽ tranh gì? Đưa cô xem.
– Dạ, em vẽ con mèo bắt con chuột. – Vừa trả lời, nó vừa lôi cuốn tập ra, lật đến một trang trắng và đưa cho cô giáo.
– Con chuột đâu, cô không thấy?
– Dạ, con mèo nó ăn con chuột rồi.
– Vậy mèo đâu?
– Mèo ăn xong, nó đi chỗ khác rồi.

Cả lớp gần năm chục học sinh phá lên cười. Cô giáo nhịn không được, cũng bật cười.

Ngoài cái khiếu tưng tửng ra, Minh Ke còn nổi tiếng với quậy phá. Gần Tết năm đó, trong trường tiếng pháo nổ đì đùng suốt cả ngày. Khói thuốc pháo mù mịt, nồng nặc, cay xè. Minh Ke lén đặt một viên pháo đại to gần bằng lon sữa bò xuống dưới bục giảng của giáo viên. Rồi nó ra cửa đứng canh chờ cô giáo. Khi cô giáo gần đến, nó chạy vào châm lửa tim pháo. Cô giáo vào lớp, đứng chào. Cả lớp nín thở, hồi hộp theo dõi. Cô giáo vừa ngồi xuống ghế thì “đùng”, một tiếng nổ rất to làm rung rinh bục giảng. Cô giáo hốt hoảng, run cầm cập bỏ chạy ra ngoài…

Tiết đó, cô giáo bỏ dạy. Giám thị và giáo viên chủ nhiệm xuống lớp điều tra xét hỏi ai đã đốt pháo. Nhưng cả lớp không ai lên tiếng. Minh Ke cũng im re. Thầy giám thị ra điều kiện, nếu không có cá nhân nào nhận trách nhiệm thì thầy sẽ phạt cả lớp đứng ngoài sân cả buổi sáng. Vậy là hôm đó cả lớp cùng nhau đoàn kết ra sân đứng chơi. Đúng là “… thứ ba học trò”.

A Bá và A Má của Minh Ke trước 1975 là thương gia giàu có, mỗi người đi một chiếc xe hơi Huê Kỳ bóng loáng, có tài xế riêng. Sau năm 1975, nhà thằng Minh Ke bị nằm trong diện “đánh tư sản” nên hầu hết gia sản của nhà nó như xe hơi, xe tải, nhà cửa, hàng hóa, kho xưởng… bị tịch thu sạch. Cũng may, nhà nó không bị đưa đi vùng kinh tế mới Lê Minh Xuân.

Gia đình Minh Ke có hai căn nhà. Một căn nhà bự ba lầu mặt tiền đường Tổng Đốc Phương bị trưng dụng. Nhờ tài khéo giao thiệp của A Bá nó nên gia đình nó còn được giữ lại một căn nhà nhỏ trên đường Lão Tử. A Bá nó cũng lo lót xin giữ lại được một chiếc xe hơi Tắc Xông hiệu Xi Thô En cũ rích thời Pháp của Lài Kon nó để lại.

Vì bị mất hết tài sản, không còn gì để làm ăn, A Bá thằng Minh Ke dùng chiếc Tắc Xông cũ làm xe đò để chạy tuyến Saigon – Biên Hòa, nuôi gia đình. Thỉnh thoảng cuối tuần rảnh, Minh Ke rủ tui theo xe của A Bá nó để phụ làm lơ xe. Đó là những lần để lại cho tui nhiều kỷ niệm nhớ mãi.

Là xe đò nhưng chiếc xe nhà Minh Ke nhỏ xíu và thấp hơn so với những chiếc xe đò khác. Vì chiếc Tắc Xông vốn sinh ra không phải để làm xe đò nên trông nó thiệt là tội nghiệp khi phải oằn mình chở nặng. Xe màu đen, hình dáng xe trông khá lạ mắt nhưng tui lại thấy nó đẹp, lãng mạn và đáng yêu. Xe có hai cái vè trước rất to với đường cong uốn lượn thật quyến rũ. Hai cái đèn pha nằm trên vè, nhìn như hai mắt con ếch thật duyên dáng. Cái cửa trước cũng khác với mấy xe khác vì nó mở ngược.

Bên trong xe có ba băng ghế, mỗi băng ngồi được bốn người. Nếu có thêm khách thì khách sẽ ngồi lên ba chiếc ghế nhỏ đặt ở giữa hai băng ghế sau. Chuyến nào đủ khách, xe chở được mười lăm người và rất nhiều thứ hàng hóa khác như xe đạp, gạo, chuối, mít, rau, củ, gà, vịt… chất đầy trên mui và ở cốp sau. Tội chiếc xe quá! Tui với Minh Ke hay ngồi vắt vẻo trên cốp phía sau, tay vịn vào baga trên mui.

Ngoài việc phụ chất hàng lên xe, tụi tui còn phụ đẩy xe những lúc xe lên dốc cầu Saigon. Sướng nhất là những lúc xe tắt máy. Mà nó cũng hay bị tắt máy. Mỗi bận nó tắt máy là tụi tui giành nhau lôi cây man ni ven ra phía trước, quay bở hơi tai nó mới chịu nổ.

Khi xe về bến, tụi tui mỗi đứa xách một cái xô đi lấy nước đổ vào két nước. Nước cũ trong két tụi tui xả ra đất, vàng khè. Khi thay nước máy hay lau chùi bu gi, tụi tui phải mở hai cánh ca pô hai bên xe lên, nhìn như cánh chim đang bay. Có bữa trời mưa, cái gạt nước vô dụng vì hư nên tui phải leo lên phía trước mui xe ngồi và dùng cái khăn quấn vào một khúc cây để lau kính.

Có lẽ vì có một thời hàn vi cùng với Traction Avant nên sau này tui mê xe loại xe cổ có kiểu dáng đầy nét lãng mạn của Pháp pha Ý này. Citroen Traction Avant đã và sẽ sống cùng bao thăng trầm với đất và người Saigon. Không biết chiếc xe tui mua có phải xe của nhà thằng Minh Ke lúc xưa không. Nhìn khá giống!

Minh Ke chỉ có hai chị em, cách nhau năm một. Hồi tụi tui vào lớp 10 thì chế nó đang lớp 11. Chế nó là một trong những hoa khôi của trường Hùng Vương và là nguyên nhân của nhiều vụ phang nhau giữa mấy anh trẻ trâu con nhà giàu khối lớp trên.

Tui cũng hay qua nhà Minh Ke, ngồi chơi trước vỉa hè. Một bữa, gặp chế nó, chế nó đưa cho tui cục kẹo: “A tỹ, kẹo nè.” Chỉ có vậy thôi mà tui nghĩ ngợi hết cả tuần.

Gần cuối năm lớp 11, một bữa có đứa bạn méc với thằng Minh Ke là anh nào đó bên khối 12 chọc ghẹo thô lỗ với chế nó. Minh Ke không nói gì. Nó lẳng lặng xách khúc cây sáu tấc qua tận dãy khối 12 nện cho nhân vật kia mấy chục phát. Nhân vật đó được đưa đi cấp cứu bên Chợ Rẫy, cũng gần trường. Chừng hai tiếng sau, nó bị chở lên CA phường ngồi đập muỗi một đêm. Nhà trường kỷ luật nó rất nặng, đánh giá hạnh kiểm yếu và buộc ở lại học thêm một năm lớp 11. Nó chán, nó bỏ học luôn.

Nửa năm sau, cả gia đình Minh Ke đi vượt biên. Từ đó tui mất liên lạc với nó. Không biết gia đình nó sống chết ra sao, có vượt qua được những hiểm nguy nơi trùng khơi biển cả để đến với bến bờ tự do mơ ước không. Hồi đó chưa có email hay mobile phone nên không có cách gì để giữ liên lạc. Hy vọng qua những dòng chữ này, biết đâu thằng bạn Minh Ke cũng có chơi phây và đọc được.

Biết đâu!

Saigon, 08/07/2021

Xem Facebook

TRỞ VỀ

Thím Ba đang lúi húi trong bếp thổi cơm chiều. Có tiếng chó sủa ngoài sân. Nhà thím hầu như không có khách nên con chó vàng của thím chẳng sủa bao giờ. Hôm nay nó sủa, chắc là có khách lạ. Thím lật đật chạy ra sân.

Thằng Chân hớn hở từ ngoài ngõ bước vào. Nó không đi một mình mà đi với một cô gái trẻ trông thật xinh xắn. Thím Ba không tin vào mắt mình. Thím đưa tay dụi dụi mắt để nhìn lại cho rõ. Đúng là thằng Chân con của thím đây rồi. Nó đi tu trên núi mà sao lại ở đây giờ này, với hình dáng này?

Khi những giây phút ngỡ ngàng đã qua, thím tủm tỉm cười và hối hai đứa đi tắm rửa để ăn tối.

Có lẽ bữa cơm tối hôm đó là bữa cơm mà thím Ba thấy ngon miệng nhất trong đời. Thằng con của thím nay đã trưởng thành và điều khiến thím cảm thấy vui nhất là nó đã trở về nhà với thím. Từ nay thím không còn sống trong cô quạnh nữa.

Ít lâu sau, hai người làm đám cưới. Hạ Kiều về sống với thằng Chân. Hạ Kiều đi dạy ở trường tiểu học gần nhà. Còn thằng Chân vì không nghề ngỗng gì nên ngày ngày vác cuốc ra đồng. Được cái là nó rất yêu thương vợ. Hầu như việc gì trong nhà nó đều làm hết.

Cuộc sống của họ hạnh phúc, bình lặng. Đã năm năm trôi qua nhưng Hạ Kiều vẫn chưa sinh con đẻ cái. Thằng Chân và Hạ Kiều bắt đầu dần dần trở nên sốt ruột. Thím Ba cũng rất lo lắng. Thím đi coi hết ông thầy này đến bà thầy khác nhưng vẫn chưa có kết quả gì.

Một hôm, thím Ba nghe người ta đồn có một ông thầy rất giỏi ở tuốt ngoài Quảng Ngãi. Thím khăn gói lên xe đò tìm đến để nhờ thầy giúp. Khi đến nơi, người ta nói thím bẻ một nhánh cây nhỏ ngoài đường, rồi mang vào cho thầy. Ông thầy mắt lờ đờ, có ánh nhìn như người cõi trên. Không khí trong căn phòng ngột ngạt, nghi ngút mùi khói nhang. Ông thầy cầm nhánh cây nhìn nhìn ngó ngó một lúc, rùng mình nói:
– Thằng này hồi nhỏ bị tai nạn. Tinh hư. Chịu. Nó không chết là may.

Hồi mười lăm tuổi, có lần thằng Chân bị sét đánh suýt chết. Không ai ngờ rằng, cú đánh trời giáng đó đã cướp đi chức năng làm cha của nó. Thím Ba buồn bã đứng lên ra về. Trên đường về, thím suy nghĩ dữ lắm, không biết sẽ nói ra sao với vợ chồng tụi nó.

Sau bữa cơm tối, thím Ba kêu hai đứa ngồi lại. Thím nói cho tụi nó biết chuyện đường sanh đẻ, con cái. Hạ Kiều ngồi nghe, nét mặt không thể hiện phản ứng gì rõ ràng. Thằng Chân có cảm giác như trời đất quay cuồng quanh nó càng lúc càng nhanh. Tai nó ù đặc, không còn nghe thấy gì nữa. Bỗng trong đầu nó vang lên một tiếng nổ long trời. Nó lăn ra, bất tỉnh.

Mấy hôm sau nó mới tỉnh dậy. Nó ngơ ngác nhìn mọi người, miệng ú ớ. Tai nó không nghe thấy gì. Nó không còn nhớ gì nữa.

Rằm tháng Sáu, thím Ba và Hạ Kiều đưa thằng Chân lên chùa để nương nhờ các sư. Các sư đón nó như đón đứa trẻ trở về nhà.

Lúc thím Ba và Hạ Kiều ra về, thằng Chân ngồi bên bậc tam cấp chánh điện nhìn theo, miệng nở nụ cười. Hạ Kiều bước đi như người không hồn. Lúc ra tới cổng chùa, đi ngang qua chiếc ghế đá dưới gốc cây bồ đề, cô nấc lên một tiếng. Hạ Kiều khuỵu xuống, thổn thức, nức nở.

Saigon, 01/07/2021

Xem Bài 1: Chân Không | Xem Bài 2: Hạ Kiều | Xem Facebook bài này

HẠ KIỀU

Hạ Kiều là một cô giáo tiểu học mới ra trường, xinh đẹp và vô tư. Học sinh rất mến cô. Các thầy cô đồng nghiệp cũng yêu mến cô. Các thầy trong trường thường nhìn nghiêng ngó trộm mỗi khi thấy cô đi qua.

Cô Hạ Kiều và thầy Lê Tất Thắng hiệu phó yêu nhau được gần năm nay. Là mối tình đầu nên cô yêu thầy Thắng say đắm. Cô dành cho thầy một tình yêu tinh khiết, căng đầy.

Thầy Thắng là một người thông minh. Thầy rất năng nổ trong công tác, tổ chức và sinh hoạt đoàn đội. Nhờ đó mà thầy đã được chủ trương của chi bộ đồng ý cử đi học lớp đối tượng đảng. Đường lên chức hiệu trưởng của thầy mở rộng thênh thang, không có gì cản trở nổi.

Hai người đã xin phép gia đình hai bên để cuối năm tổ chức đám cưới. Họ là đôi uyên ương kiểu mẫu ước ao của cả tập thể giáo viên trong trường. Có người ngưỡng mộ, có người ghen tị. Kệ cho ai nghĩ gì, họ vẫn đang tận hưởng hạnh phúc ngất ngây của mình.

Một hôm đi dạy về đến nhà, chợt nhớ để quên cuốn giáo án ở trong lớp, Hạ Kiều đạp xe quay trở lại trường để lấy. Cô không muốn ngày mai đứng lớp mà không đọc lại giáo án trước. Hạ Kiều vừa đạp xe, vừa khẽ hát.
….Trời quê hương trong xanh như lời hát
Biển quê hương ru êm êm bờ cát…

Những làn gió nhè nhẹ luồn vào mái tóc xõa dài của cô. Ánh trăng tinh nghịch nhảy múa rộn ràng theo bóng cô suốt quãng đường. Chưa bao giờ cô thấy yêu ngôi trường của mình đến như vậy. Cô nhẹ nhàng dựng xe và bước về phía dãy phòng học.

Khi vừa bước vào phòng học, trong tranh tối tranh sáng, Hạ Kiều thấy thầy Thắng và cô con gái của thầy hiệu trưởng đang quấn chặt lấy nhau âu yếm. (Thầy Thắng đúng là sinh hoạt thật năng nổ! Đó là tui nghĩ vậy chớ hổng phải Hạ Kiều nghĩ.)

Trời đất xung quanh Hạ Kiều đổ sập xuống, tối sầm lại. Cô lao ra khỏi phòng học. Cô khóc nức nở, đạp xe phóng đi như người mộng du. Ánh trăng vội vã chạy theo cô, cố nhìn qua từng kẽ lá như muốn níu chân cô lại. Tiếng côn trùng cùng hòa lên một bản dạ khúc buồn thê thảm.

Một tháng sau.

Ở một ngôi chùa nhỏ bên lưng chừng núi, một hôm có một cô gái trạc tuổi đôi mươi bước vào với gương mặt phảng phất chút buồn man mác. Cô ngồi trầm ngâm ở ghế đá dưới bóng râm gốc cây bồ đề. Cô muốn nương nhờ sự từ bi nơi cửa Phật để mong quên đi mối tình đắm say nhưng dang dở của cô.

Khi gặp vị sư bước đến, cô đứng dậy chắp tay cúi chào. Bất giác, cô nhìn vào gương mặt vị sư. Cô cảm thấy như có một luồng sét đánh thẳng vào trái tim đang đau đớn của mình.

Hạ Kiều ra về, trong lòng cô cảm thấy tội lỗi vô cùng. Cô không thể để cho cảm xúc của mình xảy ra như vậy ở chốn tu hành trang tịnh. Nhưng, như có điều gì đó thôi thúc, những ngày hôm sau cô lại đến chùa, ngồi dưới bóng cây, chờ đợi.

Và một ngày, khi cô đang ngồi đó chờ đợi, người ấy đã bước ra nắm lấy tay cô.

Hai người dắt tay nhau lặng lẽ bước đi. Tiếng chuông chùa xa dần trong mùi thơm của hoàng hôn. Họ đi về phía những ngôi nhà đang tỏa lên những làn khói lam thanh bình…

Saigon, 29/06/2021

Xem Bài Trước | Xem Facebook

CHÂN KHÔNG

Thằng Chân bạn tui tướng tá phốp pháp, tính tình ngổ ngáo. Nó là con chú thím Ba Tòng ở cuối xóm. Năm nó lên mười ba tuổi, nhà nó bị nhà nước đánh tư sản nên mất hết ruộng đất, máy móc và nhà xưởng. Vì uất ức quá nên chú Ba trộn ký đường uống hết chai DDT sau khi đã cạn mấy xị đế.

Nhà chỉ còn hai mẹ con, sẵn có máu ngang tàng nên thằng Chân không thèm nghe lời ai. Suốt ngày nó lêu lỏng, giao du với mấy đứa đại ca ngoài thị trấn. Tuần sáu ngày học thì nó trốn học hết hai ba ngày.

Có lần trên đường đi học về, tui bị đám xóm trên chặn đường đòi oánh. May mắn, thằng Chân vừa đi tới. Nó trợn mắt dợt cho đám xóm trên một trận má nhìn không ra. Từ hôm đó, tui với nó chơi thân với nhau.

Hồi nhỏ lúc sáu bảy tuổi gì đó, nó bị té giếng. Hên cho nó, chú Ba thấy kịp. Từ hôm đó tính tình nó dần dần khác hẳn. Trước đó nó ngoan lắm. Có lẽ do bị té giếng lúc nhỏ nên sau này đi học nó học không vô. Nó học trước quên sau. Thành ra nó cảm thấy mặc cảm nên chán học.

Mặc dù tính tình của thằng Chân trái ngược hẳn với tính tình của tui nhưng tụi tui chơi rất thân với nhau. Nó bảo kê cho tui không bị đám xóm trên ăn hiếp. Tui chỉ bài cho nó học để nó không bị lưu ban học đúp năm nào.

Mùa hè cuối năm học lớp chín, mỗi lần có mưa rào là đám trẻ xóm tui la hét rủ nhau chạy lung tung tắm mưa. Có một lần, trời mưa to như trút nước và sấm chớp rền trời. Tụi tui rượt nhau chạy dưới mưa giông ra ngoài đồng. Thằng Chân cao to chạy lẹ nên nó vù một cái ra tới gốc cây dầu cao chơ vơ giữa đồng trống. Khi chúng tôi còn cách nó mấy chục thước thì một tia chớp ngoằn ngoèo sáng lóe xẹt từ trên cao xuống ngọn cây dầu kèm theo tiếng nổ long trời. Ngọn cây dầu gãy tung tóe, cháy đen thui. Thằng Chân nằm bất tỉnh dưới gốc cây, quần áo tả tơi, lấm lem bùn đất. Chờ rất lâu sau nó mới tỉnh dậy. Tụi tui hỏi nó cái gì nó cũng lắc đầu ngơ ngác.

Vì bị sét đánh nên thằng Chân bị lãng tai và quên hầu hết mọi thứ. Nó quên tên nó, quên luôn mẹ nó là ai. Thím Ba xin cho nó vào một ngôi chùa nhỏ để ở. Nó được các sư thầy tận tình chăm sóc, châm cứu và dạy tụng kinh, hành thiền hàng ngày. Dần dần, qua nhiều năm kiên nhẫn chữa trị, tai nó bắt đầu nghe lại bình thường và nó nhớ lại được nhiều thứ.

Nhờ chịu khó tu tâm dưỡng tính và đạt nhiều tinh tấn, năm năm sau, nó được thầy trụ trì làm lễ đặt pháp danh. Thầy đặt pháp danh là Thích Chân Không. Hôm đó là ngày đặc biệt, thằng Chân chính thức xuống tóc, xuất gia tu tập. Chân Không phát nguyện ở lại chùa để tu hành cho đến ngày đắc đạo. Chân Không đã gặp được nhân duyên của mình ở chốn hương trầm thanh tịnh.

Dĩ nhiên, từ dạo đó, mỗi khi lên chùa, tui tụi gặp Chân là xưng Thầy Chân chứ không còn gọi thằng nữa. Thầy luôn chúc tụi tui thường an lạc. Nhờ ở trong chùa và hành thiền đều đặn, Chân Không trông hồng hào, thân ý tràn đầy tâm khí và có ánh mắt hiền từ, dễ mến.

Thấm thoắt đã mười năm trôi qua kể từ hôm Chân Không xuất gia. Thầy Chân Không nay là trợ lý của sư trụ trì. Có lẽ sau này Chân Không sẽ thay sư trụ trì ở ngôi chùa này.

Một hôm có một cô gái trạc tuổi đôi mươi bước vào chùa với gương mặt phảng phất chút buồn man mác. Cô ngồi trầm ngâm ở ghế đá dưới bóng râm gốc cây bồ đề. Chân Không đi ngang qua, cô gái chợt đứng dậy, chắp tay cúi chào.
– Mô Phật – Chân Không dừng lại, chậm rãi cúi chào.
Ánh mắt cô gái thoáng nét bối rối, mặt ửng đỏ, nét đẹp ẩn giấu thoáng hiện ra trên khuôn mặt đượm buồn của cô.

Buổi hành thiền tối hôm đó có gì là lạ trong giọng kinh của Chân Không. Mấy lần đọc bị vấp… Hình ảnh cô gái ban chiều cứ đến rồi đi như những đám mây trắng trôi trên bầu trời. Sư trụ trì nhận thấy ngay những dấu hiệu đó.

Hôm sau, cô gái lại xuất hiện và ngồi ở dưới tán cây bồ đề. Chân Không đi qua, cô gái đứng dậy chắp tay cúi chào. Những ánh mắt im lặng nhìn nhau. Chân Không một lần nữa bị sét đánh. Lần này sét không đánh vào tai nhưng đi thẳng vào tim của một người tu hành.

Buổi hành thiền tối hôm đó Chân Không đã tự sám hối. Nam Mô Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát. Người có duyên với tu hành không thể để cho sắc dục cám dỗ. Thân tâm phải thanh tịnh như mặt nước mùa thu thì nghiệp chướng mới lặng xuống đáy sâu được.

Những ngày sau, cô gái không đến.

Chân Không sám hối mỗi ngày. Càng sám hối, Chân Không càng bắt gặp ánh mắt và khuôn mặt cô gái trong suy tưởng của mình nhiều hơn. Cô đến cả trong mơ. Cô xuất hiện trong mọi bước chân và hơi thở. Chân Không cảm thấy nhớ nhung.

Một buổi chiều muộn, khi đang tụng kinh, Chân Không bỗng dưng dừng lại, ngoái đầu nhìn ra gốc cây bồ đề. Cô gái đang ngồi dưới bóng cây tự bao giờ. Chân Không buông rơi chuỗi hạt, chạy nhanh vào bên trong. Khi trở ra là Chân Không với hình ảnh hoàn toàn khác lạ. Chàng trai trong chiếc áo sơ mi và quần jean.

Hai người dắt tay nhau lặng lẽ bước đi. Tiếng chuông chùa xa dần trong mùi thơm của hoàng hôn. Họ đi về phía những ngôi nhà đang tỏa lên những làn khói lam thanh bình…

Saigon, 27/06/2021

Xem Bài Sau | Xem Facebook

THẰNG THÉ

Xem phần 1

… Anh Lam không còn giành ăn với thằng Thé nữa. Nhờ đó mà vóc dáng thằng Thé có da có thịt hơn và nó cũng trở nên vui vẻ tự tin hơn trước.

Khoảng vào năm 1985, gia đình tôi dọn hết đồ đạc, chất lên một chiếc xe Lambro 550, chuyển đến khu kinh tế mới thuộc ngoại ô Saigon sinh sống. Đó là vào giai đoạn kinh tế cả nước cực kỳ khó khăn do bị cấm vận và chính sách ngăn sông cấm chợ gây ra. 

Ở chốn nước phèn lạ lẫm, chúng tôi phải làm đủ thứ “nghề” để tồn tại, từ việc đi mua cây bạch đàn để chẻ củi đem lên Chợ Lớn bán, cho đến buôn lậu gạo, đậu phộng, thuốc lá… Nghe từ buôn lậu có vẻ “mánh lới” chứ thực ra mỗi lần chỉ chở được một hai dạ gạo hoặc đậu phộng bằng xe đạp thồ. 

Làm ngày nào xào ngày đó. Có bữa bị bắt, mất sạch vốn! Cả nhà đói meo mấy ngày. Cũng nhờ lòng tốt của một số bạn hàng cho mượn tiền đi tiếp nên gia đình tôi cũng sống sót qua cơn đói khổ. 

Do phải bươn chải với cuộc sống, tôi quên hẳn chuyện hai anh em thằng Thé và cũng không có dịp gặp lại nó… Mới đó mà cũng hơn ba con giáp.  

Cách đây ba tháng, tôi với bốn bạn trong công ty đi thuyết trình dự án Digital Marketing cho một công ty khá lớn có văn phòng ở tòa nhà Bitexco. Buổi thuyết trình bao gồm ba phần, kéo dài trong hai tiếng rưỡi với sự tham gia của năm người bên tôi và năm người bên khách hàng. 

Khi chúng tôi và các nhân vật khách hàng đã yên chỗ thì vị giám đốc mới tất tả bước vào, vừa bắt tay từng người vừa trao danh thiếp. Tôi bắt tay vị giám đốc và cầm danh thiếp liếc đọc nhanh. 
Hoàng Văn Thé – CEO 

Thoáng nghĩ trong đầu và nhìn sâu vào mắt vị giám đốc, tôi buột miệng: 
– Thằng Thé hả mày? 
– Thằng Tuấn đây sao?
Chúng tôi ôm chầm lấy nhau trước sự ngỡ ngàng của mọi người trong phòng họp. 

Sau buổi họp, hai anh em chúng tôi tản bộ ra Continental uống cà phê để ôn chuyện thời ấu thơ và tâm sự chuyện của mấy mươi năm qua. 

Từ bữa suýt chết đuối, anh Lam trở nên trầm cảm, ít nói và thường ngồi suy tư. Tính tình ảnh ngày càng trở nên cộc cằn khó đoán. Có lẽ do ảnh bị sốc tâm lý cộng với tính cách yếu đuối nên mới bị như vậy. 

Vì bị trầm cảm, ảnh làm bạn với những cơn say để tìm sự nguôi ngoai. Ngày nào ảnh cũng chếnh choáng hơi men từ trưa đến tối. Mỗi lần say xỉn là ảnh quậy phá tanh banh nhà. Quậy phá trong nhà không đã, ảnh quay ra gây sự với chòm xóm. Nhiều lần bị công an ấp bắt nhốt cho muỗi chích cả đêm mà ảnh cũng không ngán. 

Dì Hai rất khổ tâm. Ngày nào dì cũng khóc. Dì vừa phải đi làm nuôi cả nhà vừa phải lo trả tiền rượu cho ảnh. Tiền làm không đủ nên có đồ gì trong nhà có giá một chút là dì phải bán hết. Cuối cùng, cái gì đến cũng phải đến. Miếng đất ông bà để lại, dì đành cắn răng bán rẻ cho ông chủ tịch xã, chỉ chừa lại vừa đủ cất cái chòi nhỏ để ở. 

Năm đó mùa hè khá oi bức. Chiều tối đi nhậu về, do nóng quá, anh Lam nhảy xuống ao tắm. Trưa hôm sau mọi người mới vớt ảnh lên được. Có lẽ dì Hai đã khô nước mắt vì khóc bao năm nay. Dì thương anh Lam lắm nhưng dì không còn nước mắt nữa!

Dì Hai lên Saigon sống với thằng Thé đến nay. Nó lo cho dì không thiếu thứ gì. Những năm tháng tuổi xuân cơ cực của dì nay về già đã được bù đắp. Chỉ còn một điều làm dì day dứt mỗi ngày. Đó là thằng Thé, kết quả của cuộc tình dang dở của dì, đến nay tuổi gần bốn con giáp rồi mà vẫn chưa chịu lấy vợ. Thêm vài năm nữa chắc bộ đồ nghề của nó bị đơ luôn quá! 

Trong friend list của tôi có chị nào trên dưới tứ tuần mà chưa chồng hoặc thôi chồng rồi cũng được, nếu ưng thì comment bên dưới để tôi mai mối thằng Thé anh của tôi cho nhé.   

Chắc cũng còn phải chờ vài tuần nữa mới giới thiệu gặp trực tiếp được vì mấy hôm nay Saigon bị giãn cách do con ccp wuhan novel coronavirus hoành hành.

Saigon, 25/06/2021

Xem Facebook